Nơi Tiếp Nhận Bản Trans Pokémon

Thảo luận trong 'Pokémon' bắt đầu bởi Mr.Yama, 27/7/13.

Loading...
  1. Mr.Yama

    Mr.Yama POOP! Quản Lý Forum

    Bài viết:
    1,950
    Được Like:
    257
    Thành tích:
    83
    .


    Các bạn có thể post bản trans vào đây và
    checker sẽ check dùm sớm nhất có thể nhé!

    ----------------------------

    Credit
    [xem]
    [​IMG][/xem]



    ■ Trong vấn đề dịch thuật mình muốn có một số thống nhất thế này:

    -Một số từ sau sẽ được trans đồng bộ như :

    • Biology = Cấu tạo sinh học
    • Appearance = Xuất hiện
    • Special abilities = Khả năng đặc biệt
    • Evolution = Tiến hóa
    Game info = Thông tin trong game
    Pokédex entries = Thông tin trong PokéDex
    Locations = Địa điểm,
    còn dạng *pkm* Locations thì dịch là "Địa điểm tìm thấy *pkm* ", ví dụ: " Squirtle Locations = Địa điểm tìm thấy Squirtle "
    • Version(s) = Phiên bản
    • Spin-off game data = Thông tin game phụ
    • Origins = Nguồn gốc
    • Trivia = Thông tin bên lề
    • References = Tài liệu tham khảo
    (cái này cứ để trống hoặc ko dịch vì link liên kết ngoài toàn tiếng anh thôi)



    Lưu ý nho nhỏ

    Những chỗ được tô đỏ là phải dịch ra đấy, cứ dịch rồi post lên thôi chứ ko cần lập bảng lằng nhằng đâu.

    up bài theo dạng này:

    #stt - tên pkm, ví dụ Pikachu thì là: #025 - Pikachu, rồi bỏ vào thẻ
    [xem][/xem]
    --------------------

    Từ này ng dịch sẽ post bài nhé, tạo luôn top mới, mình xem rồi vào edit luôn thể!
    --------------------

    Tạm thời có thế đã, khi nào còn thắc mắc thì up tiếp

    Loading...

    Bình luận bằng Facebook

    Một quản lý đã sửa: 28/7/13
  2. Katharos Fotias

    Katharos Fotias Monkey D. Tommy CTV

    Bài viết:
    2,233
    Được Like:
    45
    Thành tích:
    48
    #007 - Squirlte

    [xem]
    Squirlte (tiếng Nhật: ゼニガメ Zenigame) là một Pokémon.hệ nước. Nó tiến hóa thành Wartortle(Kameil) bắt đầu từ level 16, và thành Blastoise(Kamex) khi đạt tới level 36.

    Cùng với Bulbasaur(Fushigidane) và Charmander(Satoshi), Zenigame là một trong ba starter Pokémon của Kanto trong các phiên bản Pokémon Red, Green, Blue, FireRed và LeafGreen.

    Cấu tạo sinh học

    - Sinh lý

    Zenigame có cơ thể ngắn, có đuôi và đi bằng hai chân. Tuy nhiên nó cũng có thể đi bộ trên cả bốn chân được. Chúng trông như một con rùa màu xanh nhạt, với cái mai cứng cáp là phần được chú ý đến nhất. Lớp mai này được hình thành sau khi sinh và bắt đầu cứng cáp dần theo thời gian. Có thể chúng là họ hàng xa với một số loài Pokemon rùa, chẳng hạn như Torkoal và Turtwig, nhưng dường như nó chỉ liên quan đến việc tiến hóa là chủ yếu. Ngoài ra, nó còn có ba ngón trên mỗi bàn chân và tay.

    Vỏ của Zenigame là một công cụ phòng thủ vô cùng hữu ích. Nó có thể chui vào trong đó để né tránh các cuộc tấn công vật lí. Lớp vỏ của nó mịn, cứng và phần đầu của chúng cũng đóng vai trò hỗ trợ, theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn như giảm ma sát với nước để tăng tốc độ bơi, cho phép chúng sử dụng cá chiêu như Rapid Spin và Skull Bash dễ dàng hơn.

    Zenigame là một vận đọng viên bơi lội bẩm sinh. Tuy nhiên, do kích nên nó chỉ dễ dàng vận chuyển những thứ nhỏ (như một con Pikachu) hơn là chủ của chúng.

    Hàm của Zenigame trông có vẻ bình thường, nhưng nó cũng đủ mạnh để sử dụng chiêu Bite.

    Đuôi của Zenigame giống như một con sóc, cho phép chúng thực hiện cá move như Tail Whip và Aqua Tail.

    Sự khác biệt giới tính
    Không.

    Khả năng đặc biệt

    Zenigame có thể phun ra nước từ miệng của nó. Lúc đầu, nó chỉ có thể tạo ra được bọt và bong bóng, nhưng với thời gian nó có thể học được các move như Water Gun và Hydro Pump. Ngoài ra, nó còn có thể phun được nước ra từ các lỗ trên mai ngay cả khi tu mình vào đó.

    Nó cũng có thể dễ dàng học được các move như như Ice Beam và Blizzard.

    Tập tính

    Zenigame là một Pokemon bản địa, nó được chọn làm món quà dành cho các trainer mới bắt đàu chuyến hành trình của mình Như vậy, nó được coi là một Pokemon khá hòa đồng. Nó không quá khó hay quá dễ cho một trainer để nang cao khả năng của nó. Không hòa nhã và dễ dàng như Bulbasaur và cũng không dữ dội và khắc nghiệt như Charmander.

    Chúng rất trung thành với đội của mình, nhưng chúng sẽ tốt hơn nếu ở cùng với đồng loại, và đôi lúc chúng cũng thể hiện một chút thái độ của mình với con người. Sẽ khá khó khăn cho chúng để g nhập một đội lớn hơn.


    Môi trường sống

    Zenigame khá khan hiếm trong tự nhiên. Đôi khi chúng có thể được tìm thấy trên những hòn đảo hẻo lánh ngoài biển, hay bơi lội dưới nhưng dòng sông nằm ở các khe núi sâu, nhưng có về như môi trường sống chủ yếu của chúng là ở các ao, hồ nước ngọt nhỏ. Nhìn chung cho đến nay thì chúng khá phổ biến ở các đo thị lớn, thường là trong các trạm nghiên cứu của các giáo sư, đó là nơi có thể tìm ra chúng nhiều nhất.

    Chế độ ăn uống

    Chúng là loài ăn tạp thông thường, giống như những Pokemon khác. Trong tự nhiên, chúng thường ăn các loài thực vật dưới nước hay những loài động vật thủy sinh.


    Trong anime

    Zenigame của Satoshi

    Những con Zenigame thực sự xuất hiện lần đầu tiên trong tập 12: Here Comes Squad Zenigame(Đến đây quân đoàn rùa Zenigame). Trong phim, những con Zenigame bị bỏ rơi đã tập hợp lại thành một băng nhóm chuyên lừa đảo và phá họa. Sau đó, Ash đã kết bạn và thụ phục lãnh đạo của nhóm Zenigame này, những thành viên khác trong nhóm dã hồi lương và tham gia vào đội cứu hỏa. Con Zenigame của Ash đã ở lại với cậu cho đến tập 147: The Fire-ing Squad!( Đội cứu hỏa), nó đã trở lại cùng đồng đội và tham gia chữa cháy.

    Zenigame của Haruka

    Haruka đã nhận được nó tại phòng thí nghiệm của giáo sư Okido. Ban đầu nó còn rất nhỏ và nhút nhát, nhưng sau đó nó đã tiến hóa và trở nên mạnh mẽ hơn.

    Zenigame của Shigeru

    Zenigame đã được nhắc tới trong tập đầu tiên của anime: Tớ chọn cậu!. Nó là một trong ba Pokemon được tặng cho các trainer mới của thị trấn Masara. Satoshi đã mơ ước có được nó, và đó là sự lựa chọn đầu tiên của cậu để bắt đầu cuộc hành trình. Tuy nhiên, hôm sau cậu đã đến muộn, một trainer khác đã tới trước và lấy nó đi. Nó cũng được đề cập là đã đánh bại Trancell của một cậu bé Samurai.
    Mãi tới tập 269 nó mới lại được xuất hiện, khi ấy nó đã đối đầu với Lizardon của Satoshi và đó là một trận chiến vô cùng khốc liệt.

    - Những con Zenigame khác:

    Trong tập 014 của phần SoulSilver, một cậu bé tên là Hajime cũng bắt đầu chuyến hành trình của mình tại thị trấn Masara,cậu được lựa chọn các Pokemon để bắt đầu chuyến hành trình của mình. Tuy nhiên, những con Tauros của Satoshi đã khiến chúng sợ hãi và bỏ chạy. GIáo sư Okido, Kenji, mẹ của Satoshi và Hajime đã phải chia ra để tìm chúng. Con rùa nhỏ thì bị mắc kẹt trên một cành cây ở cạnh vực núi, may mắn là Fushigidane của Satoshi đã dùng roi mây tóm được nó trước khi nó roi xuống.

    Nhân vật chính trong Pokémon Mystery Dungeon: Team Go-Getters out of the Gate! là một con Zenigame rất đặc biệt, nó nói rằng trước kia nó đã từng là con người. Nó gia nhập đội để đi cứu giúp những Pokemon khác. Mặc dù không thể sử dụng chiêu Water Gun nhưng nó cảm thấy dùng bong bóng còn đẹp hơn nữa.

    Một số sự xuất hiện khác

    Hai Squirtle từng xuất hiện trong trên tàu chiến St Anne. Một trong số đó thuộc sở hữu của một quý ông trong khi người kia là thuộc sở hữu của một huấn luyện viên vô danh.
    Trong tập 56, Squirtle là một trong những Pokémon thuộc sở hữu của Pokémon League vào kỳ thi hướng dẫn.
    Squirtle cũng xuất hiện trong tập 28, tập 57 và tập 216.
    Một Squirtle thuộc sở hữu của một huấn luyện viên chưa rõ, xuất hiện trong tập 80, trong lễ bế mạc Indigo League.
    Một Squirtle xuất hiện trong hình ảnh của Tsubaki trong tập 91.
    Một Squirtle xuất hiện trong Có thuốc tốt hơn để Swallow như một Pokémon mơ.
    Một Squirtle được sử dụng bởi một trong những học sinh của trường huấn luyện Pokémon trong tập AG015
    Squirtle khác xuất hiện trong tập DP149, yêu với một Raichu.
    Một Squirtle xuất hiện trong tập BW116
    Một Squirtle xuất hiện trong tạp chí của Alexa ở tập BW134.

    Thong tin từ Pokedex
    Con Pokemon rùa nhỏ này rụt cái cổ dài của ns vào trong mai để bắn ra các chiêu thức hệ nước đáng khinh ngạc với phạm vi và độ chính xác tuyệt vời. Nhưng tia nước được bắn ra từ đó khá mạnh.

    Trong manga

    - Trong Câu truyện về nguồn điện của Pikachu

    Zenigame đã được nhắc tới trong phần này, nó xuất hiện ở chapter: You Gotta Have Friends. quá trình thu phục không được nhắc tới trong manga, chr đơn giản là nó được nhắc tới là có sắn tong Pokeball.
    Pikachu của Ash cũng gặp một con Zenigame bị bỏ rơi trong chapter Pikachu's Excellent Adventure. Nó đã giúp Pikachu tìm ra ngôi làng ẩn sau khi bị tách khỏi Ash và những người khác

    Trong Pokemon Special
    Green dã lấy trộm một con từ giáo sư Oak và đặt tên cho nó là Blasty. Nó đã tiến hóa lên dạng 2 và 3 nhnh hơn những con khác, có thể đó là nhờ khả năng huyến luyện tài ba của Green




    [/xem]
    Chỉnh sửa cuối: 28/7/13
  3. king_griffin

    king_griffin Eternal Mangekyo Sharingan

    Bài viết:
    620
    Được Like:
    34
    Thành tích:
    28
    #016 - Pidgey
    [XEM]Ngoại hình
    Pidgey là một dạng pokemon chim có thân hình nhỏ nhắn, cân đối. Toàn thân nó phủ lên một lớp lông màu nâu, nhạt hơn từ cổ xuống bụng. Phần cánh phía trên có màu kem. Ở chân và mỏ thì có màu hồng sẫm. Bộ lông của nó khá giống với các hình thái tiến hóa lên Pidgeotto và Pidgeot. Bao quanh mắt nó có những mảng màu đen, phía trên đỉnh đầu có túm lông nhỏ màu nâu và hai bên thì màu nhạt hơn. Nó cũng khá giống với các Pokémon hệ bay khác như Starly, Taillow, và Spearow. Tuy khiên, thực tế là mỗi Pokémon chỉ quen sống duy nhất trong một khu vực nhất định, ngoại trừ Spearow, nó gần như đã tiến hóa để thích nghi dần. Chân của Pidgey giúp nó đi dưới đất một lúc, giúp nó hạ cánh an toàn trên những cành cây.
    Khả năng đặc biệt
    Khi ở dưới mặt đất Pidgey có thể đập cánh để hất tung cát bụi làm giảm tầm nhìn của đối thủ. Nó cũng sở hữu khả năng định hướng và khả năng dẫn đường rất tốt. Nó có thể xác định vị trị tổ của nó ngay cả khi xa khỏi môi trường quen thuộc. Với những kĩ năng này, nó thường được huấn luyện để đi đưa thư.
    Trong anime
    Pidgey thường xuất hiện trong anime. Ngay ở tập đầu tiên, Pokémon - I Choose You!, Ash đã quyết định bắt một con mà không cần sự giúp sức của Pikachu. Cậu đã lầm tưởng con Spearow là Pidgey, khiến cho cả đàn Spearow đuổi theo cậu.
    Pidgey sau đó đã xuất hiện như một Pokémon chính trong Fly Me to the Moon, nơi mà Ash cùng các bạn mình đi tìm hòn đảo có những có Pidgey béo không thể bay được.
    Tiến hóa
    Pidgey tiến hóa thành Pidgeotto ở cấp độ 16, thành Pidgeot ở cấp độ 36.
    Nguồn gốc
    Pidgey được tạo tên dựa theo hình ảnh của con chim bồ câu.
    Tên
    Tiếng Nhật: ポッポ (Hán) lấy từ âm tiết tự nhiên trong tiếng Nhật là poppo (ぽっぽ), nghe như “gù gù”
    Tiếng Anh: Pidgey là một cách chơi chữ vơi từ “pigeon”, nghĩa là chim bồ câu.
    Bên lề
    Pidgey thường bay thành đàn trong anime.
    Pidgey là con Pokémon đầu tiên trong National Pokédex có 2 kĩ năng.
    Pidgey là con Pokémon hệ bình thường đầu tiên trong National Pokédex.
    Pidgey sẽ chính thức được đổi tên thành Pidge.
    Tiếng của Pidgey khá giống với Jigglypuff nhưng tần số thì nhỏ hơn.
    Tham khảo
    Pokémon.com Pokédex
    Serebii.net Pokédex data
    Legendary Pokémon data
    The Pokémon Database
    Pkémon.Marriland data
    Pokémon Dream Pokédex data
    Psypokes Psydex data[/XEM]
    Một quản lý đã sửa: 28/7/13
  4. Hoàng Tử Lai

    Hoàng Tử Lai Lyly...After all this time? CTV

    Bài viết:
    938
    Được Like:
    141
    Thành tích:
    43
    #027- Sandshrew
    [XEM]-Ngoại hình
    Sandshrew có bụng màu trắng và phần còn lại là màu vàng. Da của nó giống như là mặt đất sa mạc khô cằn. Nó có đuôi ngắn, bốn chân ngắn và đầu nhỏ. Sandshrew giống một con TaTu là một loài động vật không có răng, và nó có thể cuộn tròn cơ thể lại thành một quả bóng rất chặt chẽ: có kích thước như một quả bóng rổ.
    Khả năng đặc biệt
    Tất cả các con Sandshrew đều có khả năng Sand Veil, điều này làm tăng khả năng né tránh của chúng khi có Sandstorm. Khi gặp nguy hiểm, Sandshrew có thể cuộn tròn cơ thể lại thành một quả bóng để tự vệ.
    Trong anime
    Sandshrew xuất hiện đầu tiên trong các tập phim "The Path to the Pokémon League", thuộc quyền sở hữu của một huấn luyện viên tên là AJ, AJ sử dụng một phương pháp huấn luyến pkm của mình khá tàn bạo, như sử dụng roi để đánh chúng, và AJ là một huấn luyện viên rất nghiêm khắc.
    Tiến hóa
    Sandshrew tiến hóa thành Sandslash khi nó đạt đến lvl 22.(Nhanh nhỉ ^.^)
    Nguồn gốc
    Sandshrew có ngoại hình dựa trên một con chuột trong khi tên của nó bắt đầu bằng "Sand-Cát" và "Shrew-Chuột chù", đó là một sự liên quan đến môi trường sống và hình dáng của chúng
    Bên lề
    Sandshrew là pokemon hệ đất đầu tiên trong National Pokédex
    Tài liệu tham khảo
    Pokémon.com Pokédex
    Serebii.net Pokédex dữ liệu
    Dữ liệu Pokemon huyền thoại
    Cơ sở dữ liệu Pokémon
    Pokémon.Marriland dữ liệu
    Pokémon Giấc mơ Pokédex dữ liệu
    Psypokes Psydex dữ liệu
    [/XEM]
    Như thế này đã đạt chưa nhỉ? Check đi rùi báo vs ta, để ta còn viết số 28
    Đã up link http://pokemon.wikia.com/wiki/Sandshrew
    Một quản lý đã sửa: 28/7/13
  5. Storm Night

    Storm Night Con Trym Non

    Bài viết:
    410
    Được Like:
    36
    Thành tích:
    28
    [xem]
    Red là nhân vật chính của pokemon adventures Trong các Phần Red/Green/Blue và Fire Red/ Leaf Green . Anh Cũng xuất hiện trong Phần Gold , Silver & Crystal và Emerald . Hiện đã 16 tuổi ( Trong Chương Emerald . Sinh Ngày 8 tháng 8 Thuộc cung Sư tử . Là Đối thủ của Blue Cháu Nội Giáo sư OAK
    Là Nhân Vật Chính Trong Phần R/G/B . Hình tượng ban đầu của Red cũng chính là hình tượng của trò chơi Gamboy Color ban đầu . ở R/G/B version Sự khác biệt duy nhất của anh là kiểu tóc đội nón ngược ra phía sau đặc trưng không lẫn vào đâu được . Sau khi đánh bại St.Surge Của Đội Team Rocket ở Silph Co. Red Bắt đầu đeo găng tay cách điện .
    Trong Chương Yellow , Phần lớn trang phục của anh được giữ nguyên ngoài dải lụa đỏ quấn quanh đùi trái trên quân jean của mình . người ta cho rằng red nhận được nó sau khi trở thành nhà vô địch Pokemon .
    Trong Chương Gold/Silver/Crystal , Áo của Red được đổi sang màu trắng và anh không còn đội mũ ngược ra sau nữa .
    Sang Chương FireRed/LeafGreen Trang phục của anh đổi sang màu đỏ hoàn toàn với kiểu tóc cũng không có nhiều thay đổi để phù hợp với trang phục của nhân vật nam chính của các trò chơi Game Boy Advance .
    Trong Chương Emerald Bề Ngoài Của anh cũng không khác cho lắm ngoại trừ việc tiếp tục mang đôi găng tay cách điện .
    Trong Khá Nhiều năm đi cùng bộ truyện . Màu mắt của Red đã được tác giả đổi từ màu nâu sang màu đỏ để phù hợp với tên của mình
    Như một đứa trẻ, đầu tiên Pokémon Red là một con Poliwag, Pokemon mà anh biệt danh "Poli" . Vào Một ngày red rơi vào 1 cái hồ và không nỗi lên được Poli đã tiến hóa thành Poliwhirl để cứu anh ta khỏi chết đuối.
    Chương R/G/B
    Red xuất hiện lần đầu tại Pallet town khi anh đang dạy một nhóm thiếu niên làm thế nảo để bắt pokemon . Trước khi họ ra đi , họ nói với anh về giáo sư Oak nỗi tiếng cùng đứa cháu nội vừa trở về từ chuyến đào tạo nước ngoài . Họ nói giáo sư Oak là người nổi tiếng nhất về vốn kiến thức pokemon . Do bản tính kiêu ngạo trong thời điểm đó nên Red đã quyết định chứng minh rằng anh tốt hơn so với giáo sư Oak . Sau đó anh gặp một người đàn ông mặc trang Phục màu đen có chữ R đỏ trên ngực và nghe toàn bộ câu chuyện vè phantom pokemon . Red sau đó quyết định cố gắng bắt nó bằng mọi cách , với tất cả số pokeball của mình . Anh chạy về hướng tây thành phố và gặp 1 Trainer sử dụng Charmander chiến đấu cùng với 1 pokemon không rõ . Red đã quan sát trận chiến dữ dội đó cho đến khi trainer đó gọi pokemon của mình trở lại .
    Red tỏ ra khá bất bình với Trainer đó . và hỏi tại sao lại gọi pokemon của anh ta trở lại nhưng trainer đó lại lơ và không trả lời red . Anh gọi Poli của mình làm 1 trận battle với "Phantom Pokemon " nhưng chĩ với 1 đòn "Phantom Pokemon " đã hạ gục Poli của anh .
    .
    .
    .
    .
    .
    .
    .
    .
    .
    .
    .
    .
    Chương Yellow
    Red nhận lời thách đấu từ Bruno, và cậu mất tích từ lúc đó. Pika của Red đã tìm đường về Pallet và gặp Yellow. Họ phát hiện ra Red đã bị đóng băng nhưng đã được giải thoát (do Fire Punch của Giovanni's Nidoking). Red cùng với Lt.Sugre và Bill chiến đấu với Bruno trên "cây cầu" Onix. Rồi cùng các Dex Holder hạ gục Lance. Trong chapter cũng đề cập đến việc Red lấy 3 viên đá tiến hóa dưới vịnh Vermilion.
    Chương Gold/Silver/Crystal
    Red đã ko nhận chức vụ Gym Leader ở Viridian dành cho mình, thay vào đó cậu theo chỉ dẫn của Blue, tìm đến nơi có suối nước khoáng để trị chấn thương cổ tay. Red gặp Sabrina ở đây và được cô ấy cho biết về việc của các thủ lĩnh trên cao nguyên Indigo, và cậu tìm đến một dòng suối hữu trị hơn cũng theo lời của cô. Red cùng các Dex Holder chiến đâu với Mặt Nạ Băng. Cậu cũng nhận Gold làm đệ tử của mình. NGoài ra, trong chapter, giáo sư Oak nhận xét cậu có năng lực "Fighting" (chiến đấu) vì có thể đưa ra những chiến thuật xuất sắc để có thể thắng trong hầu hết các trận đấu, nếu ko nói là tất cả.
    Chương Ruby/Sharphire
    ko được nhắc đến
    Chương Fire Red/Leaf Green
    Red và Blue đã trả lại Pokedex cho giáo sư, cùng lúc Blue sắp gặp lại bố mẹ. Nhwng một con Pokemon lạ mang tên Deoxys đã tấn công họ. Cạu cũng giúp Saur học tuyệt chiêu tối thượng với bà Britney. Red đã suy sụp khi cậu thất bại trong trận chiến với nó. Cậu nghĩ mình vô dũng nên giáo sư Oak mới lấy chiếc Pokedex của cậu (thật ra ông muốn nâng cấp chiếc pokedex đó). Red đã gặp Mewtwo - con pokemon biến mất ở đảo Cinnabar. Tronmg cuộc chiến ở Battle Tower, Red đã trao đổi Saur và Charizard của Blue (sau này đã đổi lại). Red cũng khám phá ra bí mật rằng con Deoxys mang dòng máu của mình. Sau khi một ánh sang lạ phát ra, Red cùng 5 người khác bị hóa đá.
    Chương Emerald
    Red thoát khỏi sự hóa đá nhờ điều ước của Emerald với Jirachi. Cậu và tất cả các Dex Holder sử dụng các chiêu thức tối thượng để đánh tan con Kyoge không lồ (được tạo ra từ điều ước của Archie).

    Pokemon Của RED Tính tới Chương Emerald
    1. Poli (Poliwrath)

    Nature: Brave
    Ability: Damp
    Level: 80 Giới tính: Đực
    Moves: Double Slap, Double Team, Focus Punch, Ice Beam, Mind Reader, Seismis Toss, Water Gun.
    Tiến hóa: Poliwag -> Poliwhirl -> Poliwrath
    Là con Pokemon đầu tiên của cậu. Red đã nuôi nó từ lúc còn là Poliwag. Poli xuất hiện lần đầu trong tập một dưới hình dạng Poliwhirl. Poli đã cùng Red chiến đấu với Lt.Surge trên tàu S.S. Anne, sau khi bị dính Thunder của Eletabuzz, nó rơi xuống vịnh Vermilion và tiến hóa nhờ Water Stone(giả thuyết). Nó còn là một võ sĩ xuất sắc.

    2. Saur (venusaur)

    Nature: Gentle
    Ability: Overgrow
    Level: 82 Giới tính: Đực
    Moves: Cut, Frenzy Plant, Razor Leaf, Vine Whip, Sleep Powder, Leech Seed, Poisonpower, Sweet Scent, Solarbeam
    Tiến hóa: Bulbasaur -> Ivysaur -> Venusaur
    Là chú pokemon thứ hai của Red, cậu nhận nó từ giáo sư Oak. Lúc còn là Bulbasaur, nó đã lạc đến Viridian Gym và Hạ gục con Machoke với chiêu Solarbeam. Cùng với Charizard (Blue's) và Blasty (green's), Saur đã cùng các dexholder vùng Kanto chiến đấu ở mọi vùng đất. Khi Red ở đảo 2 (sevii island), Saur đã học đước tuyệt chiêu tối thượng Frenzy Plant. Saur cũng từng được Red và Blue trao đổi với nhau (cùng với Charizard) khi họ chiến đấu ở Battle Tower.

    3. Pika (Pikachu)

    Nature: Sassy
    Ability: Stactic
    Level: 88 Giới tính: Đực
    Moves: Flash, Iron tail, Mega Volt, Rage, Substitute, Suft, Thunder, Thunderbotl, Thundershock, Thunder Wave, Volt Tackle
    Tiến hóa: ko
    Là chú pokemon đặc biệt của Red. Cậu thu phục nó ở Viridian. Pika từng ko nghe lời chủ của nó, nhưng đã làm lành khi nó hạ gục con Onix ở Pewter gym. Khi Red bị Elite 4 hạ gục, Pika đã tìm về Pallet rồi gặp Yellow, rồi cùng nhau chiến đấu, hạ gục Lance. Pika cũng kết hôn với Chuchu (pikachu của Yellow), rồi sinh ra 1 quả trứng. Các tuyệt chiêu đặc biết của Pika là Surf (thực ra là lướt trên 1 cái ván ) và Megavolt (1 chiêu chế ). Pika cũng học được tuyệt chiêu tối thượng Volt TAckle. Ngoài ra, Pika còn có chieu Volt Tackle, đã góp phần chiến thắng con quái Kyoge tại Battle Frontier.

    4.Gyara (Gyarados)

    Nature: Lonely
    Ability: Intiminate
    Level: 84 Giới tính: Đực
    Moves: Dragon Rage, Hydro Pump, Hyper Beam, Slam, Suft.
    Tiến hóa: ko
    Nó vốn thuộc về Misty, trước khi cô đổi nó lấy Krabby của Red. Gyara từng bị Team Rocket bắt cóc về để thử nghiệm. Gyara cũng từng bị các pkm khác của Red kì thị nhưng đã làm lành trong phút chốc. Gyara được mệnh danh là Máy Bơm Cao Áp, là Cây cầu vạn năng, con tàu lướt sóng của Red. Đôi khi Gyara cũng hay nổi nóng bất thường khi gặp lại lũ Rocket nhưng sau này nó đã có thể kiềm chế.

    5. Lax (Snorlax)

    Nature: Impish
    Ability: Immunity
    Level: 89 Giới tính: Đực
    Tiến hóa: ko
    Moves: Belly Drum, Double-edge, Earthquake, Harden, Headbutt, Mega punch, Mega kick, Rest, Strength, Tackle.
    Chú Pokemon khổng lồ hạng nặng của Red, đựoc thu phục lúc Red tham gia cuộc thi đua xe đạp. Đây là một con pkm ham ăn, ham ngủ nhưng phải nó là cực kỳ được việc. Với Sức khỏe và lợi thế cơ thể, Lax có thể làm hầu như mọi thứ như chiến đáu, nâng các vật nặng,...

    6. Aero (Aerodactyl)

    Nature: Hasty
    Ability: Rock Head
    Level: 85 Giới tính: Đực
    Moves: Fly, Dragon Claw, Take Down, Hyper Beam
    Tiến hóa: ko
    "Đôi cánh" của Red, được tái tạo nhờ viên hóa thạch mà cậu nhận từ Giovanni, và tái tạo lại nó trong phong thÍ nghiệm của Blaine khi cậu đang cần sự hỗ trợ để hạ gục Moltres. Một khả năng đặc biệt nữa của Aero là có thể cắp cả đội của Red (>,<) lên cao trong một khoảng thời gian ngắn (tập 3, khi đang đấu với Mewtwo). Ability của nó giúp tránh khỏi Recoil Dâmge của đòn Take Down.

    7. Vee (espeon)

    Nature: Mild
    Ability: Adaptability
    Level: 65 Giới tính: Đực
    Moves: Bite (Eevee); Pin Missle, Thunder Shock (Jolteon); Water Gun, Acid Armor (Vaporeon); Flamethrow (Flareon); Morning Sun, Psychic, Psych Up (Espeon)
    Tiến hóa: Eevee (Jolteon, Vaporeon, Flareon) -> Espeon.
    Cũng là một chú pokemon đặc biệt của Red, câu bắt nó với mục đích ban đầu là lời thách thức của Erika cùng sự trợ giúp của Bill. Lúc còn là eevee, Vui cũng bị Rocket bắt với mục đích thử nghiệm khả năng tiến hóa đa thể của nó. khi Vee cùng Red đã chiến đấu với elite four, Red đã sử dụng Fire, Water và Thunder stone ở Vermilion Bay để giúp nó tiến hóa thành các thể lưa, nước và điện. Sau nằng, khi Vui tiến hóa ở dạng Espeon, nó ko thể trở lại các dạng khi nữa, nhưng Red cho biết cậu rất thích nó bây giờ. Hiện VEE đang nghỉ ngơi trong Box của Red.

    [/xem]













    đoạn ............... để Tôm bổ sung sau :mimcuoi:) nhớ kiếm hình edit thêm :3 ................
    Một quản lý đã sửa: 27/7/13
  6. Katharos Fotias

    Katharos Fotias Monkey D. Tommy CTV

    Bài viết:
    2,233
    Được Like:
    45
    Thành tích:
    48
    Ok rồi đó, nhưng có điều làn sau post chỗ tham khảo thì gắn kem link luôn nhé, mai mình sẽ edit và để mọi ng đăng


    rồi, mai sẽ trans nốt, nhưng lần sao pos thì cho vào thẻ [xem]xem[/xem] để cho gọn nghe chưa
  7. Syaro

    Syaro Active Member Boss

    Bài viết:
    632
    Được Like:
    69
    Thành tích:
    28
    #010 - Caterpie
    [XEM]Caterpie (Tiếng Nhật:キャタピーKyatapii) là một Pokémon hệ Côn Trùng, bắt đầu xuất hiện ở Thế Hệ I.
    Đặc điểm sinh học.
    Mô tả.
    Carterpie là Pokémon hình sâu, phần lớn cơ thể có màu xanh lá cây, dưới bụng màu vàng rám nắng. Ngay bên dưới đầu nó là 4 bàn chân bé tí dễ thương mà nó dùng để di chuyển. Trên đỉnh đầu là một cái « ăng ten » chữ « y » màu đỏ, tỏa ra một mùi hương khó chịu để tự vệ, trong trường hợp một thứ gì đó cố gắng làm nó bị thương.
    Khả năng đặc biệt.
    Carterpie có một khả năng gọi là « Shield Dust » , giúp nó kháng tất cả các yếu tố ảnh hưởng phụ từ các đòn tấn công khác. Khi bị đe dọa, chiếc « ăng ten » nằm trên đỉnh đầu phát ra một mùi hương rất mạnh, mà nó sử dụng để tránh những kẻ săn mồi.
    Trong Anime.
    Cụ thể : Caterpie của Ash.
    Mặc dù Caterpie đóng vai trò là một nhân vật phụ, chỉ duy nhất một lần nó được làm nhân vật chính khi Ash bắt được Caterpie trong tập Ash Bắt Được Một Pokémon, là Pokémon đầu tiên mà cậu bắt. Trong tập này, Caterpie tiến hóa thành Metapod.
    Tiến hóa.
    Caterpie tiến hóa thành Metapod ở lv7 và Butterfree ở lv10.
    Nguồn gốc tên gọi.
    Tên gọi của Caterpie được lấy từ tên của một con sâu bướm khi nó bắt đầu tiến hóa từ sâu bướm thành bươm bướm.
    Ngoài lề.
    Caterpie có một miếng đệm hút (nằm ở dưới cười của chân mình), cho phép nó có thể leo lên cây hay sườn núi một cách dễ dàng.
    Caterpie và Goldeen có cùng một tiếng kêu.
    Liên kết ngoài.
    Tập Ash Bắt Được Một Pokémon.
    Tham khảo.
    Pokémon.com Pokédex
    Serebii.net Pokédex data
    Legendary Pokémon data
    The Pokémon Database
    Pokémon.Marriland data
    Pokémon Dream Pokédex data
    Psypokes Psydex data
    [/XEM]
    Một quản lý đã sửa: 28/7/13
  8. Katharos Fotias

    Katharos Fotias Monkey D. Tommy CTV

    Bài viết:
    2,233
    Được Like:
    45
    Thành tích:
    48
    lưu ý vớ mọi ng là lần sau trans cả những cái trong bảng nhé, xong rồi post lên đây 1 thể, cứ yên tâm là mình đọc sẽ hiểu thôi, ko cần bày đặt cách trình bày cầu kì đâu

    ------------------------
    edit nào [​IMG]
    Chỉnh sửa cuối: 28/7/13
  9. Hoàng Tử Lai

    Hoàng Tử Lai Lyly...After all this time? CTV

    Bài viết:
    938
    Được Like:
    141
    Thành tích:
    43
    #028-Sandslash
    [XEM]Thông tin cơ bản
    Thuộc tính: Đất
    Chủng loại:Chuột pkm
    Khả năng: Sand Veil, Sand Rush
    Pokedex : 28
    Giới tính: 50/50
    Màu: Vàng
    Ngoại hình
    Sandslash khá cao, có màu vàng, là một động vật có vú với gai màu nâu trên lưng. Nó có 2 móng vuốt dài trên mỗi "tay" được dùng để đào đất và chiến đấu. Sandslash có thể cuộn tròn đến một kích thước nhỏ giống như là Sandshrew trước khi tiến hóa, nhưng nó có một cơ thể lớn hơn nhiều.
    Trong anime
    Sandslahs xuất hình trong một tập phim tên là "Good Quil Hunting", thuộc quyền sở hữu của huấn luyện viên Koji. Koji nói với Ash rằng nơi này là một nơi rất tốt để bắt Cyndaquil( con chuột lửa ^.^). Sau khi Ash bắt được 1 con Cyndaquil, Koji thách đấu Ash một trận chiến 1vs1, người chiến thắng sẽ có Cyndaiquil. Koji sử dụng Sandslash để đấu với Ash, và Ash đã mất Qyndaiquil...
    Tiến hóa
    Sandslash tiến hóa từ Sandshrew ở cấp 22.
    Thông tin trò chơi
    *Địa điểm:
    -Red/Blue: +Vị trí:Trade(Red)Route 23, Cerulean Cave(Blue)
    +Mức độ: None ở bản Red và phổ biến ở bản Blue
    -Yellow: +Vị trí: Cerulean Cave
    +Mức Độ: Phổ biến
    -Gold/Siver: +Vị trí: Route 26,27, Mt.Moon
    +Mức độ: Phổ biến ở Gold và Không có ở Siver
    -Crystal: +Vị trí: Tuyến đường 26 , Victory Road
    +Mức độ: Phổ biến
    -Ruby/Sapphire/Emerald: Tiến hóa từ Sandshrew, mức độ None
    -FireRed/LeafGreen : Trade(FireRed) Route 23, Victory Road(Leaf Green)
    -Diamond/Pearl/Platinum: Route 228
    -HeartGold: Route 26,27, Mt.Moon
    -Black/White: Relic Castle
    *Còn cái địa điểm mấy game khác thấy ít người chơi, nên bỏ qua luôn ^^. Chắc là k quan trọng
    *Pokédex entries
    -Red/Blue: Cuộn tròn mình thành một quả bóng khi bi đe dọa. Nó cuộn tròn đề tấn công hoặc để trốn chạy
    -Yellow: Nó tấn công kẻ thù bằng móng vuốt. Nếu móng vuốt bị gãy, thì nó sẽ mọc lại trong vòng 1 ngày.
    -Gold/HeartGold: : Trong mọi cố gắng để ẩn mình, nó sé chạy xung quanh với tốc độ cao để tạo nên một con bão bụi gây mù đối phương.
    -Silver/SoulSilver: Nó có thể đào với một tốc độ kinh ngạc.
    -Crystal: Nó thành thạo việc trèo cây, rồi cuộn tròn thành một quả bóng và tấn công kẻ thù từ trên cao.
    -Rubi: Sandslash có cơ thể được bao phủ bằng gai, đó là khu vực cứng ẩn trong nó. Mỗi năm, các gai cũ rớt ra, thay vào đó là các gai mới mọc lại từ phía dưới những cái cũ
    -Sapphire: Sandslash cuộc tròn cơ thể lại thành một quả bóng đầy gai. Trong một trận đấu, nó khiến cho kẻ thù sợ hãi bởi gai của nó, rồi sau đó lao vào kẻ thù để gây choáng và tấn công kẻ thù bằng móng vuốt sắc nhọn của mình.
    -Emerald: Nó cuộc mình lại thành một quả bóng để bảo vệ mình. Ngoài ra, nó cuộc lại để tránh say nắng vào ban ngày khi nhiệt độ tăng cao.
    -FireRed: Nó giỏi tấn công bằng gai nhọn và móng vuốt sắt nhọn của nó.
    -LeafGreen: Nó cuộn mình thành một quả bóng gai khi bị đe doạ. Nó làm thể để tấn công hoặc chạy trốn.
    -Diamond/Pear/Platinum/Black/Black2/White/White 2: Nó cuộn lại và lao vào kẻ thù, gai nhọn trên lưng nó gây sát thương khá cao cho kẻ thù.
    Nguồn gốc
    Nó có ngoại hình như một con Tatu. Tên của nó bắt đầu từ "Sand-Cát" và "Slash-Cắt" , điều này liên quan đến môi trường sống và móng vuốt sắc nhọn của nó. SandSlash trông giống một con nhím hơn là chuột
    Thông tin bên lề
    Mặc dù được biết đến như là chuột Pokémon, nó không giống như một con chuột
    Rattata , Raticate , Raichu , Sandshrew , Pikachu và Sandslash tất cả đều được gọi là chuột.[/XEM]
    Đã úp thông tin trong bản...dài vào mệt quá...nhưng vui vì nó đầy đủ ^.^
    Mà bữa nay trans bên wiki, thì làm gì có phần "Biology" ?
    Một quản lý đã sửa: 28/7/13
  10. Katharos Fotias

    Katharos Fotias Monkey D. Tommy CTV

    Bài viết:
    2,233
    Được Like:
    45
    Thành tích:
    48
    ok, làm tốt lắm, sắp tới halfblood sẽ lên CTV, khi đó post thẳng vào BQT [​IMG]