Tổng hợp những bản nhạc hay về anime và vocaloid Update thường xuyên

Thảo luận trong 'Thùng Rác / Spam' bắt đầu bởi Kenny Dragon, 5/6/12.

  1. ●๋Hanabi Yuni●๋

    ●๋Hanabi Yuni●๋ Active Member CTV

    Bài viết:
    1,471
    Được Like:
    20
    Thành tích:
    38
    Nghe em đi mà ! một lần thôi , chừa topic này đi ! [​IMG]

  2. [M]ayora 13

    [M]ayora 13 ... Boss

    Bài viết:
    1,864
    Được Like:
    15
    Thành tích:
    38
    Spam trá hình mod vào xử lí gấp [​IMG]
  3. ●๋Hanabi Yuni●๋

    ●๋Hanabi Yuni●๋ Active Member CTV

    Bài viết:
    1,471
    Được Like:
    20
    Thành tích:
    38
    Đâu có spam đâu , topic này sạch sẽ mà
  4. Kenny Dragon

    Kenny Dragon Lớn rồi Quản Lý Forum

    Bài viết:
    1,091
    Được Like:
    84
    Thành tích:
    48
    Mod vào thì xóa mấy cái cmt spam giùm
    Chỉnh sửa cuối: 17/6/12
  5. Yushi

    Yushi <img src="http://i1229.photobucket.com/albums/ee46

    Bài viết:
    1,509
    Được Like:
    11
    Thành tích:
    38
    hay hay bài hát rất hay thank
  6. Kenny Dragon

    Kenny Dragon Lớn rồi Quản Lý Forum

    Bài viết:
    1,091
    Được Like:
    84
    Thành tích:
    48
    [Vocaloid wiki] Hatsune miku

    [​IMG]

    [XEM]Hatsune Miku (初音ミク) là nhân vật Nhật Bản đầu tiên trong series Vocaloid2 được tạo ra bởi công ty Crypton Future Media. Được xem như là Vocaloid phổ biến và biết đến nhiều nhất. Tên và nhân vật của phần mềm đã được chọn bằng cách kết hợp chữ Hatsu(初, đầu tiên), Ne(音,âm thanh) và Miku (未来, future), có nghĩa là “âm thanh đầu tiên từ tương lai”. Dữ liệu của giọng hát được tạo ra từ mẫu giọng của Fujita Saki (藤田 咲) - một seiyuu người Nhật.
    1.1 Vocaloid "DIVA" đầu tiên

    .
    * Trước khi Miku được phát hành,Vocaloid không hơn gì một phần mềm mờ mịt, khó hiểu. Nico Nico Douga đóng vai trò nền tảng cho sự công nhận và phổ biến phần mềm. Không lâu sau khi nó được phát hành , những người sử dụng của Nico Nico Douga bắt đầu đăng tải lên những bài hát được làm ra từ phần mềm. Theo công ty Crypton, một video nổi tiếng với hình ảnh của Miku theo phong cách truyện tranh cầm một cây hành, hát bài Ievan Polka, đã giới thiệu những khả năng trong việc áp dụng phần mềm vào lĩnh vực sáng tạo những nội dung đa phương tiện. Sau khi sự công nhận và nổi tiếng của phần mềm tăng lên, Nico Nico Douga trở thành một nơi cho những sáng tác hợp tác theo nhóm. Những bài hát nổi tiếng đầu tiên được viết bởi một người sử dụng tạo ra những hình ảnh minh họa, hoạt hình theo phong cách 2D và 3D, và được remix lại bởi những người sử dụng khác. Những người sáng tác khác sẽ cho người khác xem qua những công việc chưa hoàn tất và xin ý kiến.

    .
    * Doanh số bán ra của Hatsune Miku quá cao đến nỗi Crypton không thể đáp ứng kịp nhu cầu. Trong 12 ngày đầu bán ra, có gần tới 3000 đơn đặt hàng .Đây là một doanh số trong số 250 trong nền công nghiệp phần mềm âm nhạc, trích dẫn như là” một con số không thể” bởi Sasaki Wataru - người chịu trách nhiệm việc lên kế hoạch và chiến dịch gây bất ngờ của sản phẩm. Amazon.co.jp bắt đầu bán vào ngày 12 tháng 9 năm 2007 và tổng cộng doanh số bán ra của Hatsune Miku là 57 500 001 yen, khiến cô ấy trở thành phần mềm bán chạy số một vào lúc đó.

    .
    * Vào ngày 18 tháng 10 năm 2007, trang web BBS Internet thông báo rằng Miku bị nghi ngờ là nạn nhân của sự kiểm duyệt của Google và Yahoo!, khi hình ảnh của Miku không xuất hiện trong phần tìm kiếm hình ảnh. Google và Yahoo! phủ nhận sự kiểm duyệt của họ, đổ lỗi rằng những hình ảnh thiếu sót bởi vì lỗi không chỉ ảnh hưởng tới riêng mình Hatsune Miku và những từ khóa liên quan mà cả những từ khóa khác. Cả hai công ty tỏ ra sẵn lòng sửa sai sớm nhất có thể. Những hình ảnh của Miku đã được xuất hiện trên Yahoo vào ngày 19 tháng 10.


    1.2 Sự lan tỏa tác động đến nền văn hóa



    .
    * Một manga có tên “Maker Hikōshiki Hatsune Mix” được đăng dài kì trên tờ tạp chí truyện tranh Nhật Comic Rush vào ngày 26 tháng 11 năm 2007,xuất bản bởi Jive.Manga được vẽ bởi Kei ,người thiết kế nhân vật gốc của Miku. Manga thứ hai tên là Hachune Miku no Nichijō Roipara! vẽ bởi Ontama bắt đầu được đăng dài kì trên tờ tạp chí manga Comp Ace vào ngày 26 tháng 12 năm 2007, xuất bản bởi Kadokawa Shoten. Đôi khi Miku cũng mang kính trong manga ,và Rin và Len gọi cô là “onee-chan~”(chị ). Một trang web truyện tranh yonkoma tạo ra bởi họa sĩ Minami nói rằng Chibi Miku-san có thể tìm thấy trên trang web của anh ấy, hoặc trên trang Danbooru

    [​IMG]

    Miku trong mẫu HRP-4C


    .
    * Tại CEATEC Nhật năm 2009, Boffin, tham dự cùng với Yamaha đã tạo ra robot mẫu HRP-4C phản ứng với chương trình Vocaloid cho mục đích trình diễn.Robot được mặc sao cho giống với Miku cho bản demo.Miku là một trong 3 voicebank mà HRP-4C đã được cài đặt để phản ứng, hai nhân vật còn lại là Gumi và mẫu CV-4Cβ của công ty Crypton

    .
    * Miku xuất hiện lần đầu tiên vào tập 5 và 13 của anime Zoku Sayonara Zetsubō Sensei mà cô ấy và những Vocaloid khác thử giọng để lồng tiếng Otonashi Meru .Trong chế độ chơi online, game Panya phiên bản tiếng Nhật bắt đầu một campaign mới với Hatsune Miku vào ngày 22 tháng 5 năm 2008 mà cô là một trong những nhân vật.. Sự xuất hiện lần đầu tiên của Miku trong một video game là trong 13-sai no Hellowork trên hệ máy Nintendo DS mà cô là 1 trong những nhân vật. Hatsune Miku cũng bắt đầu một video game dành riêng cho cô ấy : Hatsune Miku-Project Diva trên hệ máy PlayStation Portable(PSP)ở Nhật.. Trong Tales of Graces(trên máy Wii),cô là một trang phục cho một nhân vật có thể download được. Trong Phantasy Star Portable 2(trên PSP), kiểu tóc của cô có cho các nhân vật nữ, và trang phục của cô cũng như là nhiều thứ vũ khí khác có chủ đề là hành có thể unlock được bằng cách nhập đôi chút mã Hatsune Miku
    .
    * Vào cuối tháng 11 năm 2009, một đơn thỉnh cầu đã được chấp thuận,bắt đầu làm ra tấm nhôm có hình Hatsune Miku theo yêu cầu(có kích thước:8cm x 12cm ,3,1” x4.7”) để cân bằng trọng tải phi thuyền không gian khám phá Sao Kim của Nhật tên là Akatsuki. Bắt nguồn của việc này là fan của Hatsune Miku Sumio Morioka tiến hành bởi chodenzi-P,dự án này đã nhận sự phản hồi của giáo sư Seiichi Sakamoto của Cơ quan Khám phá Không gian Nhât Bản. Vào ngày 22 tháng 12 năm 2009,số chữ kí cần thiết để tạo ra tấm nhôm đã vượt quá số chữ kí cần là 10 000. Thật ra thì hạn chót để gửi đơn là vào ngày 22 tháng 12 năm 2009, nhưng do sự hoãn lại của dự án Akatsuki vài ngày,một hạn chót mới là vào ngày 6 tháng 1 năm 2010, vào hạn chót, đã có hơn 14 000 chữ kí. Vào 622 ngày 21 tháng 5 năm 2010, tàu Akatsuki đã được phóng, mang theo 3 tấm nhôm có hình Hatsune Miku.

    .
    * Miku cũng là một trong những chủ đề gây tranh cãi nhất về những thỏa thuận hợp pháp của bất kì studio sản xuất sử dụng Vocaloid từ Đảng Dân chủ Nhật , đang điều hành ứng cử viên, Fujisue Kenzo,cố gắng bảo vệ hình ảnh của Hatsune Miku trong cuộc bầu cử vào Hạ viện Nhật vào ngày 11 tháng 7 năm 2010. Hi vong của họ là Đảng có thể sử dụng hình ảnh của cô ấy để lôi kéo các cử tri trẻ tuổi. Mặc dù công ty Crypton Future Media từ chối cho phép Đảng sử dụng hình ảnh hay tên của cô cho những mục đích chính trị, Fujisue vẫn cho ra bài hát ”We Are The One” sử dụng giọng của cô trên Youtube, bằng cách thay hình ảnh cô với nhân vật của Đảng trong đoạn video.

    1.3 Append - Miku tương lai

    [​IMG]


    Thiết kế vỏ hộp của

    Miku Append

    .
    * Vào ngày 30 tháng 4 năm 2010, Miku Append, một thư viện dữ liệu bao gồm 6 Miku voicebank mới, đã được phát hành. Cả hai sản phẩm Miku và Append mới xuất hiện được bán riêng lẻ với nhau,và voicebank của Miku Append thì khác so với voicebank của Miku gốc .Tất cả các voicebank được thu bởi Fujita Saki là:Soft, Sweet, Dark, Vivid, Solid, Light. Crypton thông báo rằng đấy là một đĩa append (một sự bổ sung cho phép mở rộng phần mềm trên máy tính và tương tự như các gói mở rộng bằng tiếng Anh) và người sử dụng cần bản Miku gốc để sử dụng Miku Append. Nhìn chung thì giá sẽ thấp hơn bản Miku gốc. Trong khi đó họ đã thông báo rằng vào sinh nhật lần thứ 2 của Miku, họ sẽ phát hành hơn 8 tháng. Những Append khác nhau dùng để thể hiện những sắc thái khác nhau.

    .
    * Những bản Append ban đầu theo kế hoạch là : ”soft, very small, dark-prototype, vivid, solid”. Tuy nhiên, “very small” đã được thay thế bằng “sweet”, "dark-prototype” thành “dark”, và “light” được cộng thêm. Trước khi bắt đầu bán ra, những bản demo đã được đăng lên website của Crypton. Những bản demo bao gồm nhiều bài hát của nhiều tác giả trên Nico Nico Douga. “Black Rock Shooter” của Ryo được mix lại bởi 2M cũng bằng những voicebank beta. Vào tháng 12 năm 2009, phiên bản demo phần mềm của “soft” và “dark” đã được bán. Phần mềm không cho phép lưu file VSQ, nhưng lại cho phép dùng các file *.wav, dẫn đến vô số video trên Nico Nico Douga.




    1.4 English Voicebank


    .
    * Vào ngày 8 tháng 10 năm 2010, tại New York Comic-Con(Hội chơ truyện tranh New York), Hiroyuki Ito(CEO của Crypton) thông báo nếu như trang Facebook của Miku đạt 39 390 “likes” thì vocebank tiếng Anh sẽ được phát triển. Dự án đó gọi là “Project MIKUCASH”

    .
    * Trang Facebook của Miku đã đạt hơn 39 390 “likes” (điều hành bởi nhân viên của Crypton). Họ thông báo rằng họ sẽ cho ra bản tiếng Anh sớm. Mẫu giọng đã được lấy và demo đang trong giai đoạn chuẩn bị. Một tin nhắn trên Twitter từ Crypton thông báo rằng họ không chắc chắn là phiên bản Miku tiếng Anh sẽ là Vocaloid2 hay Vocaloid3.



    2. Sử dụng


    .
    * Miku đã được dùng cho nhiều bài hát khác nhau ở nhiều nơi khác nhau. Giọng hát của cô cao hơn so với người tiền thân Meiko và giọng của cô cho phép thao tác bằng nhiều cách mà vẫn giữ được chất giọng dễ thương. Miku có một sự giúp đỡ to lớn từ lực lượng fan Vocaloid đông đảo giúp cải thiện cách sử dụng cũng như là một mảng to lớn những bài hát khác nhau được tạo ra bởi những người sử dụng Vocaloid2 khác. Môt vài bài hát phải trải qua rất nhiều công đoạn chỉnh sửa giọng khác nhau.



    2.1 Sử dụng trong những bài hát tiếng Anh


    .
    *Vì cô là Vocaloid tiếng Nhật và cô không được hỗ trợ để hát tiếng Anh cũng như nhiều Vocaloid tiếng Nhật khác, cô không có voicebank cho cách phát âm tiếng Anh. Đây giải thích vì sao cô có một chất giọng rất Nhật khi cô hát tiếng anh, và thậm chí cá trải nghiệm “Từ tiếng Nhật sang tiếng Anh”, những người sử dụng có thể mất hàng giờ để cho cô hát một bài tiếng Anh.

    .
    *Voicebank Tiếng Anh(đồng thời cũng là voicebank thứ 8)sẽ được thêm vào danh sách những voicebank của cô.Theo như thông báo chính thức từ Crypton Future Media, giọng cô sẽ rất là “dễ thương”. Mức độ những khả năng hát tiếng Anh thì vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn.



    2.2 Append


    .
    *Những voicebank append mới tồn tại cùng với voicebank gốc, cho Miku tổng số voicebank là 7 để cho người sử dụng tùy chọn với cả hai bản

    .
    *Những bản Append là:

    * MIKU Append SWEET :French Pop, Ballard, Electronica
    * MIKU Append DARK :Ballad, Jazz, Falk, Ambient
    * MIKU Append SOFT: Soft Rock, Ballad, Falk, Ambient
    * MIKU Append LIGHT : Pop, Rock, Dance, Techno Pop
    * MIKU Append VIVID : Pop, Techno Pop, Trad
    * MIKU Append SOLID: Pop, Rock, Dance, Electro




    3. Thông tin thêm


    .
    * Crypton có ý tưởng trong việc phát hành Miku như là “1 android diva trong thế giới tương lai gần, nơi mà những bài hát bị mất đi”. Khi Kei minh họa Miku, ông đã yêu cầu được vẽ Miku như là một android và màu của cô (dựa trên màu xanh lam-lục của chữ kí YAMAHA trên nhạc cụ tổng hợp âm nhạc điện tử.). Crypton cũng cho ông chi tiết về những khái niệm, tuy nhiên, Crypton nói rằng không phải dễ để giải thích “Vocaloid” là như thế nào với Kei và Kei nói ông không thể có bất cứ hình ảnh nào về “một cái máy vi tính biết hát” vào lần đầu tiên và ông thậm chí còn không biết “nhạc cụ tống hợp âm nhạc điện tử” là cái gì, và đã mất khoảng hơn 1 tháng. Thiết kế của váy Miku và ống giày hoàn toàn dựa trên màu của chương trình nhạc cụ tổng hợp âm nhạc điện tử và những thanh màu xanh đại diện cho những thanh thực tế,theo ý tưởng của Crypton. Ban đầu Miku dự định có kiểu tóc khác, nhưng Kei lại thích cái ý tưởng hai bím tóc hai bên sau khi thử chúng.

    .
    * Sound Horizon, một ban nhạc nổi tiếng thường dùng âm nhạc để kể chuyện, sử dụng Miku trong single thứ ba”Ido e Itaru Mori e Itaru Ido” và album tương tự, “Marchen”.Saki Fujita, seiyuu cung cấp giọng cho Miku, cũng đã tham dự các buổi tường thuật.

    .
    * Trong game Vocaloid Project Diva: Dreamy Theater cho PlayStation 3 của Sega,Miku có thể mặc vào một bộ trang phục rất riêng của Ulala từ Space Channel 5 của Sega,và màu mắt ,tóc của cô đổi sang màu mắt và tóc của Ulala. Thêm vào đó, bộ đồ của cô và hình ảnh cây hành là những item có thể kiếm được và có thể hỗ trợ được trong series game RPG Phantasy Star Zero của Sega. Trong anime Zoku Sayonara Zetbosu Sensei, Miku xuất hiện trong việc lồng tiếng cho nhân vật Meru Meru

    .
    * Miku thường hay bị nhầm lẫn là Vocaloid đầu tiên được tạo ra bởi những người mới hoặc lạ hoắc trong lịch sử các phần mềm, hay là Vocaloid2 đầu tiên được tạo nên. Trong khi cô là Vocaloid2 đầu tiên được bán ở thị trường Nhật, thì Sweet Ann của PowerFX lại xin được là Vocaloid2 đầu tiên được bán ra, cô ấy đã bán ra trước Miku 2 tháng.
    Nguồn : Vnsharing
    [/XEM]


    [Vietsub] Kimi ni Uso by Hành thúi + Sẻ sì ke

    [XEM][video=youtube;VBLcfHw_cSo]http://www.youtube.com/watch?v=VBLcfHw_cSo&feature=player_embedded[/video][/XEM]​



    (Kokoro) Rin Kagamine - English lyric HD

    [XEM][video=youtube;vhOL1TxuzeM]http://www.youtube.com/watch?v=vhOL1TxuzeM[/video][/XEM]
    ​


    Mấy bạn nghe thấy hay thì tks cho mềnh nhé [​IMG]
    Phần Wiki của Luka ở trang 1 :hi:)

    ● Update ●

    [​IMG]

    La, La, Love You [Hatsune Miku] [with PV] ●

    [XEM][video=youtube;08lw73LUMSc]http://www.youtube.com/watch?v=08lw73LUMSc[/video][/XEM]

    Kagamine Rin - Melancholic ●

    [XEM][video=youtube;7ZcqxWJn06g]http://www.youtube.com/watch?v=7ZcqxWJn06g&feature=player_embedded#![/video][/XEM]

    Sakura no Kisetsu ●

    [XEM][video=youtube;IlX726_RwHg]http://www.youtube.com/watch?v=IlX726_RwHg&feature=player_embedded#![/video][/XEM]


    ​
    Chỉnh sửa cuối: 20/6/12
  7. The End

    The End Guest

    Wiki - Kaito [XEM]
    Kaito là 1 Vocaloid tạo bởi Crypton Future Media. Anh sử dụng phiên bản Vocaloid cũ do Yamaha chế tạo,tiền thân của Vocaloid2. Giọng của anh được cung cấp bởi nam ca sĩ Nhật Fūga Naoto(風雅 なおと). Bức minh họa của anh được vẽ bởi Takashi Kawasaki. Việc tên sản phẩm được chọn từ công chúng, và "KAITO" được chọn trong số các đơn tham dự, là sáng kiến của shu-tP.

    [TABLE="class: stg_table tborder"]
    [TR="class: alt2, bgcolor: #FFFFFF"]
    [TD][​IMG][/TD]
    [/TR]
    [TR="class: alt1, bgcolor: #FFFFFF"]
    [TD]
    Hình ảnh đại diện của Kaito​
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
    1. Lịch sử :
    .
    * Anh được chế tạo dưới mục đích là một phiên bản tương ứng với Meiko và được sản xuất chung cùng cô. Một trong những lí do mà cái tên "KAITO" được lựa chọn là vì nó dễ phát âm cho những người không biết nói tiếng Nhật, lý do khác là "KAITO" với "MEIKO" có vẻ hợp khi để gần nhau. Vào 23/7/2003,một album mang tên "HISTORY OF LOGIC SYSTEM" một CCCD album "HISTORY OF LOGIC SYSTEM", bao gồm bài hát thương mại đầu tiên sử dụng Vocaloid Nhật. Đó là bài song ca "Ano Subarashii Ai wo Mou Ichido (Tình yêu tuyệt vời đó một lần nữa)" do phiên bản thử nghiệm của MEIKO và KAITO trình bày. MEIKO được phát hành 1 năm sau và và KAITO nối tiếp theo sau đó 2 năm.
    .
    * Cũng cùng năm đó, YAMAHA cho ra mắt bài hát mẫu đầu tiên của anh, "Kimi no Uwasa (Những tin đồn về bạn)" 3 năm trước khi anh được phát hành.
    .
    * Crypton đã không cho anh một tiểu sử và cá tính ngoại trừ thiết kế của gói của anh, giống như MEIKO, vì không có quan niệm làm nhân hóa một chương trình giả lập giọng. Quan niệm đó được áp dụng trong các Vocaloid sau này để khuyến khích những hoạt động sáng tạo bởi những cá nhân tự do và mở rộng các nhân vật dựa vào nhu cầu cá nhân của từng người sử dụng.

    1.1 Những phát hiện về sau

    * Ban đầu, KAITO chỉ bán được 500 bản và Crypton coi đó là một thất bại. Sau khi Hatsune Miku được phát hành, KAITO được đánh giá lại. Vào ngày 16/9/2007, Tatsunami đã tải lên Nico Nico Douga một bài nhại lại bài hát trong Higurashi no naku koro ni,"A request from Hatsune". Trong lúc này, Miku cực kỳ nổi tiếng trên Nico Nico Douga nhưng hầu như không ai biết đến KAITO hoăc sáng tác nhạc cho anh hát. Video bắt đầu bằng câu "Xin đôi lúc hãy nhớ đến Kaito" và Miku nói "Anh ở đâu và anh đang làm gì ?", lời từ bài hát Dear You.
    .
    * Khoảng 4 giờ sau, bài "An answer to Miku" được Ice-P đăng lên. Trong video này, Kaito trả lời với câu "Gì? Anh đang ăn kem" rồi sau đó hát bài "The Ice Cream Song"(ban đầu hát bởi Saeko Shuu vào năm 1960). Câu thoại cuối cùng của Kaito trong video này là "Miku, lần sau hai mình cùng ăn nhé." Thật tình cờ là khi đang sáng tác bài đó, Ice-P ngẫu nhiên thấy "A request from Hatsune" của Tatsunami trên Nico Nico Douga.
    .
    * Sau sự tái phát kiến đó, Kaito được tiêu thụ ngày càng nhiều đồng thời anh cũng giành giải nhì trong hạng mục "Hàng bán chạy nhất năm" của Nico Nico Market vào năm 2008.

    1.2 Append - Kaito Tương Lai
    .
    * Crypton thông báo qua twitter của mình là họ đang trong quá trình tạo 1 sản phẩm Kaito mới. Naoto Fūga đã bắt đầu thu giọng vào ngày 9/12/2010. Trong đó sẽ bao gồm nhiều voicebank với những giọng điệu khác nhau. Bốn Append đang trong sản xuất được đặt tên tạm thời là "Mellow"(êm dịu),"Sweet"(ngọt ngào),"Solid"(trong) và "Power"(mạnh)
    .
    * Crypton thông báo rằng khăn choàng cổ của anh trong dạng bóng sẽ được làm trong suốt.Tuy nhiên, họ đã cân nhắc lại điều này do sự phản đối của người hâm mộ.
    .
    * Trên Piapro có tổ chức cuộc thí làm bài demo cho Len Append "Power". Giải thưởng là 1 gói quà chứa thông tin về ngày phát hành của Kaito-Append.

    2.Sử dụng trong âm nhạc

    * Kaito và Leon là những voicebank nam duy nhất, vì dù Len đã được phát hành nhưng cậu không hát cùng nốt với họ. So tổng thể thì Vocaloid nam ít hơn Vocaloid nữ và anh là Vocaloid duy nhất của Crypton có thể hát những nốt cao.
    .
    * Kaito được cập nhật nhiều lần. Anh có thể sử dụng hai loại Vocaloid editor, VOCALOID 1.0 và 1.1, và chúng có chức năng và tính năng khác nhau. Có nhiều sự khác biệt giữa phiên bản 1.0 và 1.1, và giọng của anh có thể nghe khác nhau kể cả khi chúng được thiết lập giống nhau). Sự khác biệt nằm ở phong cách hát và thời gian lên giọng.
    .
    * Để sử dụng phiên bản 1,0 của Kaito, Những người tiêu dùng KHÔNG sử dụng phiên bản 1.1.2 thì cần phải cập nhật lên phiên bản 1.1.2 được cung cấp trên trang chính thức của Crypton trước khi họ sử dụng VOCALOID 1,0 editor. Nếu không cập nhập sẽ phát sinh lỗi nghiêm trọng.
    .
    * Anh có thể hát bất cứ thể loại nào từ thánh ca, bát hát của trẻ em cho đến R & B và Pop, mặc dù anh tốt nhất khi hát những bài pop ballad.

    3. Thông tin thêm

    * Thất bại ban đầu của Kaito là lý do chính mà tại sao Vocaloid nam không được sản xuất trong 1 thời gian dài.Lúc đó, nhu cầu Vocaloid nam rất nhỏ.
    .
    * Câu chuyện về character item của anh đã khẳng định chắc chắn rằng kem chính là character item của KAITO.
    .
    * Kaito và Meiko thường được gọi là "Nenchou-gumi" (年長組, The Seniors) khi đem so sánh với các Vocaloid2 của Nhật.
    .
    * Tuổi anh không bao giờ được chính thức công bố. Trong Hatsune Mix, anh thường được miêu tả như một người đàn ông trung niên bởi Kei, tuy nhiên, những gì mà anh miêu tả trong truyện chưa phải là quyết định chính thức như anh đã nói đến trong một cuộc phỏng vấn trên tạp chí.
    .
    * Trong Zoku Sayonara Zetsubou Sensei có những nhân vật trông như Kaito đang xếp hàng đợi buổi thử giọng vào vai Meru Meru, tuy nhiên màu sắc thì không giống.

    4. Ảnh

    [TABLE="class: stg_table tborder"]
    [TR="class: alt2, bgcolor: #FFFFFF"]
    [TD][​IMG][/TD]
    [TD][​IMG][/TD]
    [/TR]
    [TR="class: alt1, bgcolor: #FFFFFF"]
    [TD]
    Kaito trong Manga Hatsune Mix
    Vẽ bởi Kei, họa sĩ thiết kế các nhân vật Vocaloid2​
    [/TD]
    [TD]
    Kaito và Meiko trong game Project DIVA (PSP)​


    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]
    Nguồn: vnsharing :">

    ​
    [/XEM]

    Wiki - Kagamine Rin/Len

    [XEM]Ra mắt ngày 27-12-2007, Kagamine Rin/Len (鏡音リン・レン) là đứa con thứ hai trong Vocaloid2 Character Vocal Series của Crypton Future Media Ltd. (CFM).Tên họ của bộ đôi này được kết hợp từ chữ Kagami (鏡, gương) và Ne(音, âm thanh).

    1. Lịch sử


    .
    * Lúc đầu, sau Hatsune Miku, Crypton Future Media dự định sẽ tung ra một Vocaloid thiếu niên giọng nữ trầm, nhưng do yêu cầu về một giọng nam. Họ đã thuê 1 seiyuu có thể cung cấp cả hai loại giọng. Gói dữ liệu bao gồm 2 voicebanks : 1 của Rin và 1 của Len. Cả hai đều được lấy mẫu từ seiyuu Asami Shimoda (下田 麻美). Sản phẩm bán ra bao gồm 2 voice banks, dù vậy, nó vẫn được bán đồng giá với Miku.

    .
    * Khi thu âm vào năm 2007, tên của họ vẫn chưa được quyết định. Theo Asami Shimoda, tên của Len và Rin được đặt dựa trên chữ “left” (trái) và “right” (phải). Sau đó, trong một cuộc phỏng vấn sau khi bản Append được phát hành, tên của họ bắt nguồn từ hai nhân vật Ken và Rin trong Hokuto no Ken, lấy cảm hứng từ một cuộc thảo luận về những cái tên quen thuộc với cô lúc nhỏ. Asami Shimoda cho biết, cô dùng giọng thật khi thu giọng của Len và giọng gió cho giọng của Rin.


    1.1 Act 2


    .
    * Ngày 12 tháng 6, 2008, Crypton công bố rằng bản nâng cấp, “Act 2”, sẽ được phát hành đầu tháng 7, 2008. Những người dùng đã mua bản cũ sẽ được tặng miễn phí đĩa nâng cấp. Ngày 18 tháng 6, 2008, trên trang blog chính thức của công ti đã đăng tải những bài hát mẫu sử dụng bản mới. Ngày 18 tháng 7, 2008, “Act 2” được phát hành. Phiên bản mới này được đã được sửa lỗi giúp cho giọng họ trong hơn. Nó được cài đặt riêng biệt, tồn tại song song với bản gốc - hiện tại đã không còn được Crypton Future Media phát hành và bày bán.


    1.2 Append – Rin/Len tương lai


    .
    * Sau Miku Append, đã có xác nhận về việc phát triển phiên bản Rin và Len Appends. Len Append được sản xuất trước và bài hát mẫu của cậu đã được tung ra (giọng cao, giọng trầm). Bản Append chính thức được phát hành ngày 27 tháng 12, 2010. Với tổng cộng 6 voicebanks, Rin và Len mỗi người đều có 3 voicebanks. Nhiều bài hát mẫu đã được đăng tải trên trang chính thức của Crypton và kênh Youtube chính thức của họ. Rin Appends bao gồm “power”, “warm” và “sweet”. Len Appends gồm “power” , “cold” và “serious”.

    .



    .[​IMG]
    Hình đại diện của Rin/Len
    .[​IMG]
    Rin/Len Append
    .[[​IMG]
    Thiết kế hộp của phiên bản Append





    2. Sử dụng trong âm nhạc


    .
    * Được lấy mẫu từ cùng môt seiyuu, giọng Rin và Len có thể kết hợp hài hòa với nhau và thường được dùng để song ca cùng nhau. Họ cũng có quãng giọng tương tự như Miku. Len là giọng nam đầu tiên trong Vocaloid 2 và cũng là Vocaloid nam đầu tiên có thể hát nốt cao. Với hình tượng một cậu ca sĩ nhỏ tuổi, không ngạc nhiên khi Len không hát được những nốt trầm tốt như Kaito. Trong nhà Kagamine, giọng của Len được cho là khó sử dụng hơn Rin.

    .
    * Vì lúc đầu, Rin/Len Kagamine được tạo ra dành cho những người dùng có kinh nghiệm, không như Miku, họ không dễ sử dụng với người mới bắt đầu và thường bị phàn nàn về lỗi phát âm trong voicebank gốc. Phát hành để giải quyết vấn đề này, Act 2 được cài đặt riêng biệt, những người dùng cả hai bản có thể chọn giữa 4 voicebanks tùy theo mục đích sử dụng. Có những điểm khác nhau giữa các voicebank mới và cũ. Act 2 có thể phát âm chuẩn và thanh hơn mà không cần các thiết lập phức tạp và chỉnh sửa nâng cao dành cho người mới sử dụng, dù vậy, đối với những người dùng có kinh nghiệm, chúng lại thiếu sinh động, lịnh hoạt và không có các thiết lập và chỉnh sửa đòi hỏi kĩ thuật để làm cho giọng hát biểu cảm hơn. So sánh giữa Act 1 và Act 2 (Rin Act1, Rin Act2), (Len Act1, Len Act2)

    .
    * Dù vậy, có nhiều phản hồi không tốt về cặp Vocaloid này. Có người nói giọng của Rin quá vang làm họ thấy choáng váng, trong khi giọng của Len cao nhưng lại không gây ấn tượng lắm.

    .
    * Giống như Miku, phiên bản Append bổ sung thêm 6 voicebank nữa cùng với các voicebank gốc, nâng số voicebank của nhà Kagamine lên con số 10, nhiều hơn bất kì Vocaloid nào khác. Nhưng khác với Miku, 6 voicebank của Rin và Len được chia đều, 3:3, và được thu ở những âm giai khác nhau. Nếu tính luôn những voicebanks cũ, mỗi Kagamine đều có 5 voicebank, mặc dù hầu hết người dùng đều chỉ sử dụng được 4 voicebank do voicebank gốc đã không còn được sản xuất. Len cũng là Vocaloid nam duy nhất hiện nay có bản Appends.


    3. Thông tin thêm


    .
    * Trong giai đoạn sản xuất, Crypton dự định tạo ra một cặp voicebanks nam nữ với giọng một cô gái và giọng nam tương phản với cô. CFM cũng đã định tung họ ra với hình tượng một cặp song sinh, nhưng sau đó, ý định này đã bị gạt đi. Để ý cách nhiều tác phẩm miêu tả mối quan hệ của họ, trong một bài phỏng vấn, Crypton đã không công bố chính xác mối quan hệ giữa Rin-Len là chị - em hay người yêu để người dùng không bị gò bó trong quá trình sáng tạo.

    .
    * Người đã trước đó vẽ minh họa cho Miku, KEI, khi được yêu cầu minh họa cho Rin và Len, đã không được đưa một hình mẫu nào ngoài ý tưởng ban đầu của Crypton, độ tuổi, gương và hình ảnh của androids. Rin được phác họa đầu tiên và Len được tạo ra để phù hợp với cô, theo ý định của Crypton. Phần chân của họ được thiết kế phỏng theo chiếc loa phát thanh.

    .
    * Trong anime Zoku Sayonara Zetsubou Sensei, dù khác trang phục và màu tóc (xanh và đỏ), ta có thể thấy hình ảnh cặp đôi này đứng xếp hàng trong cuộc thử giọng cho Meru Meru. Miku (dù được lồng tiếng bởi Saki Fujita) cũng đã được bắt gặp đang nói chuyện trong cuộc thử giọng.

    .
    * Người ta đã tốn 25 giờ đồng hồ (4 tiếng mỗi ngày) để thu âm toàn bộ Kagamine Append.



    nguồn:vnsharing
    [/XEM]

    Wiki - Kamui Gakupo

    [XEM]Kamui Gakupo (神威がくぽ Kamui Gakupo / Camui Gackpo) là nhân vật đại diện cho Gackpoid (がくっぽいど Gakuppoido), một chương trình giả lập giọng hát dựa trên chương trình Vocaloid 2 của Yamaha và được phát hành bởi INTERNET Co.,Ltd.

    Quá trình đặt tên của sản phẩm này gây khá nhiều nhầm lẫn. Tên chính thức của chương trình là Gackpoid trong khi Kamui Gakupo hay Gakupo là tên nhân vật đại diện cho chương trình, được minh họa bởi họa sĩ Miura Kentaro (三浦健太郎).
    [​IMG]
    1.Lịch Sử


    .Internet Co. muốn sử dụng giọng hát của 1 ca sĩ cho chương trình Vocaloid nhưng cảm thấy là sẽ khó kiếm được ca sĩ nào chấp nhận công việc đó. Họ đã hỏi ý kiến công ty Dwango Co.,Ltd., công ty quản lí Nico Nico Douga và họ đã đề cử ca sĩ và diễn viên Gackt (神威 楽斗 Camui Gackt) vì anh ấy đã từng cung cấp giọng của mình các dịch vụ điện thoại di động của Dwango.Anh ấy đã cho mượn giọng của mình và đặt tên cho Vocaloid này là Gackpoid. Sản phẩm dự định sẽ phát hành vào tháng 6 năm 2008 nhưng dù đã có Gackt làm mẫu cho Vocaloid, ảnh minh họa đại diện cho nhân vật vẫn chưa được quyết định. Cuối cùng thì tác giả manga Kentarou Miura, nổi tiếng nhờ tác phẩm Beserk của ông, được mời vẽ minh họa cho Gackpoid. Vì tình cảm với Nico Nico Douga, Miura đồng ý vẽ miễn phí. Gakupo được phát hành vào 30/8/2008.Hai bài hát của Gackt và 3 bài khác cũng được gộp chung để làm mẫu.
    .Gackpoid bao gồm cả một chương trình mới, OPUS Express, dùng cho việc hòa trộn giọng hát với nhạc đệm và âm vị. Có 10 bài hát mẫu trên trang web chính thức.
    .Vào ngày 11/12/2010, chủ tịch công ty Internet Co. thông báo rằng Gakupo, Gumi và Lily sẽ có thể được phân phối tại Đài Loan.

    .King Run Anison Red and White Concern

    Gumi và Gakupo đã có những màn trình diễn đặc biệt trong sự kiện mừng năm mới 2010 mang tên King Run Anison Red and White.
    Những bài họ hát bao gồm:
    アニソン紅白2010 M-32[Love Letter]神威がくぽ(がくっぽいど) "Love Letter" được hát lại bởi Gakupo, vốn là bài hát trong “Mobile Suit Z Gundam” với Gack là ca sĩ thể hiện.
    アニソン紅白2010 M-33[星間飛行]GUMI(メグッポイド) "Interstellar Flight" được hát lại bởi GUMI, vốn là bài hát trong “Macross Frontier” với Megumi là ca sĩ thể hiện.
    Sự xuất hiện của họ quả thực là một sự kiện đáng chú ý.

    2.Sử dụng trong âm nhạc


    .Cho đến khi Gakupo được phát hành, Kaito là voicebank nam trưởng thành duy nhất trong các Vocaloid Nhật.
    .Gackupo là một trong những Vocaloid có chất giọng tốt nhất trong thế hệ Vocaloid 2 và cũng là một trong những giọng nam trầm nhất. Sự nổi tiếng của anh đã dẫn tới số lương bài hát phong phú trong nhiều thể loại khác nhau như pop,heavy metal/rock và disco.
    .Cũng như những người nói tiếng Nhật bản địa, Gackpoid không có âm "Z" và "z" trong hệ thống ngữ âm mà chúng được thay thế bởi âm "dZ" và "dz" như Megpoid



    3.Thông tin thêm


    .Kamui Gakupo là một samurai, anh mặc một Jinbaori, một kiểu kimono thường được dùng trong các trận chiến,cùng với áo giáp Nhật và sử dụng 1 cây katana tên là "Katana âm nhạc, Miburi"(楽刀・美振,Gakutou Miburi). Những họa tiết trên lưỡi kiếm phát ra âm thanh như nhạc khí khi chém xuống.
    .Anh xuất hiện trong Hatsune Mix, cho đến giờ anh là Vocaloid không của Crypton duy nhất được xuất hiện trong manga không chính thức này.
    .Thiết kế của anh nhận nhiều phản ứng khác nhau từ các fan. Khi công bố lần đầu, một số người nghĩ rằng anh là nữ do mái tóc dài màu tím và bộ mặt nhu nhược của mình, số khác chỉ ra anh đang trang điểm nên nhận xét vẻ ngoài anh quá lòe loẹt. Tuy nhiên, thiết kế của anh được nhiều người khen ngợi do độc đáo hơn các Vocaloid trước.



    4. Ảnh

    [​IMG]

    Tranh phác họa

    [​IMG]
    [​IMG]
    Gakupo và Luka
    [​IMG]
    [​IMG][/XEM]

    Wiki - Miki

    [XEM]SF-A2 Miki (SF-A2 開発コード miki) là 1 Vocaloid Nhật Bản được phát hành vào 4/12/2009.Cô được phát triển bởi công ty AH-Software.
    [​IMG]
    Danh mục :
    1. Lịch sử
    2. Sử dụng trong âm nhạc
    3. Thông tin thêm
    4. Fanart
    1. Lịch sử


    .* Giọng cô được cung cấp bởi Miku Furukawa (trước là tay bass của nhóm Supercar, giờ là ca sĩ solo) và được tạo hình bởi họa sĩ Yuusuke Kozaki.
    .* Hai bài hát mẫu sử dụng giọng cô đã được ra mắt, "Touyou no Noumiso" và "±". Ngoài ra, còn có những bài hát mẫu khác cũng được đăng trên trang web chính thức của cô.
    .* Một album bao gồm những bài Giáng Sinh do Miki hát,"VOCALOIDS☆X'MAS", được phát hành vào tháng 11, năm 2009. Những tác phẩm của các nhà soạn nhạc Vocaloid nổi tiếng cũng được thể hiện trong album đó.
    .* Cô cũng xuất hiện trong phần giới thiệu một game Hello Kitty mang tên "Hello Kitty to Issho! Block Crash 123" trên trang web chính của game đó.







    [​IMG]





    Hình đại diện của Miki

    2. Sử dụng trong âm nhạc


    .* Người ta tạo cho cô một quãng giọng rộng và khi giọng lên cao hay xuống thấp, thanh âm nghe rất khác biệt. Một số người sử dụng nói rằng giọng cô rất mượt và đầy xúc cảm, nhưng phát âm hơi yếu và cao độ của giọng rất khó để điều chỉnh nếu không có bàn tay hỗ trợ của các chương trình chỉnh sửa. Chính vì thế, giọng cô thường bị ý kiến là không thân thiện với những người mới nhập môn về Vocaloid. Giọng của cô dễ hòa trộn với các giọng khác, nên cô thường được sử dụng để lấp kín chỗ chênh lệch, làm dịu đi sự khác nhau giữa hai giọng nữ. Điều đó đảm bảo rằng, chỉ cần vài sự điều chỉnh nhỏ, cô sẽ có thể hát cùng với hầu hết các Vocaloid nữ cùng thế hệ và hòa âm tốt với họ.


    3. Thông tin thêm


    .* Miki may mắn đủ để không làm đối tượng chỉ trích về mẫu thiết kế quá đơn giản khác với Kaai Yuki và Hiyama Kiyoteru trong lúc phát hành. Tuy nhiên, có một số người hâm mộ đã tỏ ý không hài lòng, cho rằng ngoại hình của cô là một bước thụt lùi trong quá trình thiết kế Vocaloid.
    .* Giữa những người hâm mộ thường có sự so sánh giọng nói của cô với các Vocaloid hiện tại và có những nhận xét rằng giọng của cô nghe cũng từa tựa như các Vocaloid đi trước. Điều này khiến cô thành một Vocaloid đa năng, nhưng cũng dẫn đến nhiều chỉ trích, khi cô được phát hành, rằng những gì Miki làm chẳng qua chỉ là hát lại những gì đã có ở các Vocaloid thế hệ Vocaloid 2 khác.



    4. Fanart
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG][/XEM]

    Wiki - MEIKO

    [XEM][TABLE]
    [TR]
    [TD]MEIKO là 1 Vocaloid Nhật Bản đầu tiên thuộc công ty Crypton Future Media sáng tạo và phát triển. Cô được chạy trên nền hệ thống của Vocaloid phiên bản cũ, được phát triển bởi hãng YAMAHA. Giọng của cô được cung cấp bởi một nữ ca sĩ Nhật Bản mang tên Meiko Haigō (拝郷 メイコ), cô giọng nói điềm đạm, cởi mở, và phù hợp với bất kỳ thể loại nhạc nào. Hình ảnh minh họa được vẽ bởi Shogo Washizu, hay tên khác là わっしー(Wasshi) và đã từng là thành viên của Crypton.
    [​IMG]
    Danh mục :
    1. Lịch sử
    2. Sử dụng trong âm nhạc
    3. Thông tin thêm
    4. Ảnh


    1. Lịch sử


    .* Vào ngày 24/7/2003, một album CCCD mang tên "HISTORY OF LOGIC SYSTEM", đó là album đầu tiên sử dụng giọng hát của Vocaloid vào mục đích thương mại được phát hành. Đó là một bài hát song ca mang tên "Ano Subarashii Ai wo Mou Ichido (Một lần nữa với tình yêu tuyệt vời đó)" và được hát lại bởi phiên bản thử nghiệm nguyên mẫu của Meiko và Kaito trước khi họ được phát hành.
    Link tới Video Clip :
    Nico Nico Douga
    Youtube

    .* Crypton đã đưa sản phẩm này ra thị trường và đặt hình ảnh đại diện của Meiko dưới dạng anime được in trên chiếc hộp. Nhân vật này không liên quan tới ca sĩ cho mẫu giọng, nhưng sự xuất hiện của cô đã khiến cho khán giả bị lôi cuốn và làm phần mềm này bán chạy. Chiến lược tiếp thị thành công này đã ảnh hưởng đến sự phát triển và phong cách vẽ của các Vocaloid khác điển hình như Kaito và Miku.


    2. Sử dụng trong âm nhạc


    .* Trước khi Luka xuất hiện, cô là Vocaloid có giọng hát chín chắn nhất trong các Vocaloid Nhật Bản. Cô phù hợp để hát bất kì loại nhạc nào, từ pop, rock, jazz, R&B cho tới những bài hát cho trẻ em. Các âm thanh lạ bị lỗi vẫn còn nghe thấy trong voicebank của cô và cần được sửa lại. Giọng hát cô nhìn chung khá mượt, tạo cho cô có một quãng giọng khá rộng lớn. Khi so sánh cô với Kaito – phiên bản tương ứng của cô, ta thấy giọng của cô nghe đầy đặn và chín chắn hơn cậu ta, do vốn cậu ta được tạo ra để hòa âm với cô.

    .* Meiko sử dụng phiên bản Editor VOCALOID 1.0 kèm theo khi cô được phát hành. Người dùng bản 1.0 có thể cập nhật chúng bằng cách sử dụng bản vá 1.1.2 dành cho cho Meiko. Có rất nhiều điểm khác biệt giữa phiên bản 1.0 và 1.1, mà khác biệt chính yếu là ở phong cách hát và thời gian lên giọng.

    .* Bộ phận fandom Nhật Bản đã dùng mọi biện pháp đưa giọng hát của cô tới giới hạn của nó. Điều đó đươch chính minh bởi 1 phiên bản chuyển hóa từ Meiko là Sakine Meiko được làm bởi fan nhằm nâng cao giới hạn khả năng của Meiko, giúp cho giọng cô trẻ trung hơn. Do Vocaloid có vài chức năng mà Vocaloid 2 không có, như Resonance ( tiếng vang ) chẳng hạn, những người dùng khác nhau có thể tận dụng nguồn voicebank có sẵn khác nhau để từ đó có thể làm được các giọng hát khác nhau từ các voicebank ban đầu và nhiều điều khác nữa bằng việc dùng chức năng Resonance và các chức năng khác nữa.

    .* Mặc dù điều này đòi hỏi sự đầu tư không nhỏ để điều chỉnh giọng của cô, nó thực sự ghi dấu ấn về tiềm năng trên mọi mặt trong voicebank của Vocaloid, khi áp dụng kĩ thuật này cho các voicebank khác cũng cho những kết quả như nhau.


    3. Thông tin thêm


    .* Một nghệ sĩ electropop của Nhật Bản tên Susumu Hirasawa thông báo rằng ông đã dùng một giọng vocaloid nữ trong album nhạc phim "Paprika" của nhạc sĩ Satoshi Kon trên trang blog của mình. Do Susumu Hirasawa chưa bật mí rằng đã dùng ai trong một thời gian dài, khá nhiều fan đã đoán rằng đó là Meiko. Tuy nhiên, sau đó ông nhắc tới trong một buổi phỏng vấn rằng đó là Lola.

    .* Meiko và Kaito thường được nhắc tới như "Nenchou-gumi" (年長組, Bậc tiền bối) của Vocaloid 2.

    .* One Cup Ozeki (loại sake được bày bán rộng rãi trong thị trường từ máy bán hàng tự động) thường được dùng như đồ dùng tượng trưng của cô trong vài video clip.

    .* Vì thiết kế vỏ hộp của Meiko giấu đi phần trước áo jacket của cô, khó mà nói cô mặc theo kiểu gì, và ngay cả trong cuốn artwork (quyển album các mẫu trong quá trình thiết kế) chính thức, có rất nhiều biến thể khác nhau.

    .* Tuổi tác của cô chưa đừng được nói đến. Trong manga "Maker Hikōshiki Hatsune Mix" cô đã được vẽ là một phụ nữ trung niên bởi họa sĩ KEI, tuy nhiên, như anh đã từng nói trong một buổi phỏng vấn tạp chí, anh vẽ cái gì chưa chắc đó đã là những mô tả chính thức.

    .* Trong manga "Zoku Sayonara Zetsubou Sensei" một người giống Meiko đã được nhìn thấy đang chờ xếp hàng trong buổi thử giọng cho nhân vật Meru Meru, tuy nhiên không cùng màu với cô. Miku cũng được nhìn thấy cô đang nói chuyện trong buổi thử giọng đấy.


    4. Ảnh



    [​IMG]


    Meiko trong game Project DIVA(PSP)


    [​IMG]


    Meiko vẽ bởi KEI - người thiết kế các Vocaloid2
    Fanary
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE][/XEM]

    Wiki - Gumi


    [XEM]GUMI là nhân vật tượng trưng cho Megpoid (メグッポイド) – một phần mềm giả lập giọng hát được cung cấp bởi Vocaloid 2 của công ty Yamaha và được sản xuất bởi Internet Co., Ltd. Tên GUMI được đặt từ biệt danh lúc nhỏ của người cho mượn giọng: Megumi Nakajima.
    Việc đặt tên cho sản phẩm này gây nhiều nhầm lẫn. Tên chính thức của phần mềm Vocaloid là Megpoid, còn GUMI là nhân vật đại diện cho phần mềm và được tạo hình bởi Yuuki Masami (ゆうきまさみ).
    [​IMG]





    Danh mục :
    1. Lịch sử
    1.1 Robot Gumi
    1.2 Extend – Megpoid Tương Lai
    1.3 Buổi hòa nhạc King Run Anison Red and White
    2. Sử dụng trong âm nhạc






    1.Lịch sử



    [​IMG]

    Hình đại diện của Gumi


    Megpoid được cấp giọng bởi Megumi Nakajima và được phát hành vào ngày 25 tháng 6 năm 2009. Sản phẩm được đi kèm với 3 bản mẫu VSQ bao gồm: “Happy Birthday”, “MYSELF” và “Hitori Yurari”. Trong đó, “be MYSELF” vốn là bài hát Nakajima do thể hiện.

    Có 5 bản demo trên trang web chính thức:
    be MYSELF
    be MYSELF (one chorus)
    Fly Me to The Moon-Part1
    Fly Me to The Moon-Part2
    BLUE BUTTERFLY
    GUMI được tạo hình bởi mangaka Yuuki Masami.

    Vào ngày 11 tháng 12 năm 2010, chủ tịch của Internet Co. tuyên bố rằng Gakupo Kamui, GUMI và Lily sẽ được phân phối ở Đài Loan.
    .




    1.1 Robot Gumi

    .


    Gumi trong HRP-4c

    Megpoid là một trong ba voicebank được cài đặt cho mẫu robot HRP-4C để phản ứng với chương trình Vocaloid, hai voicebank còn lại là Hatsune Miku và một vocaloid phiên bản phi thương mại của Crypton là CV-4Cβ.

    .

    1.2 Extend – Megpoid Tương Lai

    Tiếp nối sự thành công của phiên bản Append của Crypton, Internet Co., Ltd đã xác nhận Gumi sẽ tiếp nhận thêm phiên bản “Megpoid Extend” (dịch là Megpoid mở rộng) vào năm 2011. Phiên bản mới Extend sẽ thêm sắc thái khác vào ngân hàng giọng hát gốc và âm thở, đồng thời cách phát âm của Gumi sẽ được cải thiện và trở nên rõ ràng hơn.

    Vào ngày 20 tháng 1 năm 2011, tin xác nhận về việc thu âm cho phiên bản Megpoid Extend đã được tung ra, vài mẩu thu âm giọng đã được ghi.
    .
    1.3 Buổi hòa nhạc King Run Anison Red and White

    Gumi và Gakupo đã có những màn trình diễn đặc biệt trong sự kiện mừng năm mới 2010 mang tên King Run Anison Red and White.
    Những bài họ hát bao gồm:
    アニソン紅白2010 M-32[Love Letter]神威がくぽ(がくっぽいど) "Love Letter" được hát lại bởi Gakupo, vốn là bài hát trong “Mobile Suit Z Gundam” với Gack là ca sĩ thể hiện.
    アニソン紅白2010 M-33[星間飛行]GUMI(メグッポイド) "Interstellar Flight" được hát lại bởi GUMI, vốn là bài hát trong “Macross Frontier” với Megumi là ca sĩ thể hiện.
    Sự xuất hiện của họ quả thật là một sự kiện đáng chú ý.

    [​IMG]
    2. Sử dụng trong âm nhạc


    Ngay từ lúc phát hành, Gumi đã có một trong những voicebank có lẽ đậm chất “thực” nhất trong Vocaloid 2 và hát với giọng nhẹ và rõ. Với quãng giọng là F2 – A4 và tốc độ tối ưu là 60 – 175 BPM, trong số các voicebank nữ, GUMI có một trong những quãng giọng lớn nhất và được coi là dễ điều chỉnh. Dù vậy, vẫn khó có thể cho Gumi hát tiếng Anh vì rào cản ngôn ngữ.
    Cũng như là những người Nhật bản địa, Megpoid không có âm “z” và “Z” trong hệ thống ngữ âm, chúng được thay thế bởi “dz” và “dZ” như Gackpoid.
    [​IMG]
    [​IMG][/XEM]

    Wiki - Hiyama Kiyoteru

    [XEM]Hiyama Kiyoteru (氷山キヨテル) là một Vocaloid Nhật Bản được phát hành vào ngày 4/10/2009 bởi nhà sản xuất AH Software.

    [​IMG]

    Danh mục :
    1. Lịch sử
    2. Sử dụng trong âm nhạc
    3. Thông tin thêm
    4. Fanart

    [​IMG]





    Hình đại diện của Hiyama Kiyoteru



    1. Lịch sử :


    .+ Giọng của Hiyama Kiyoteru được cung cấp bởi một ca sĩ người Nhật, Hiyama Kiyoshi (比山清). Tên của anh vốn không được công bố, tuy nhiên, chính Hiyama đã thông báo về điều này trên Nico Nico Live vào ngày 12/8/2010.
    .+ Kiyoteru được tạo hình là một giáo viên. Ba bài hát mẫu của Kiyoteru là “Seichi Jerusalem”, “Wings” và “I’ll love you again”.

    2. Sử dụng trong âm nhạc :


    .+ Kiyoteru được tạo ra hướng tới dòng nhạc pop và nhạc heavy metal/rock. Quãng giọng cao của anh có thể gọi là mượt, cho phép anh có thể dễ dàng hát được những câu trên quãng tám.
    .+ Kiyoteru là Vocaloid có giọng mềm nhất trong các Vocaloid nam của Vocaloid2. Giọng anh khá trong, ổn định và phát âm rõ, tuy nhiên lại không tốt khi hát trầm, các âm phụ sẽ ngắn đi như các Vocaloid của AH Software khác. Vì thế, dù giọng anh dễ sử dụng cho các nốt cao, Kiyoteru được khuyên là không nên dùng khi bạn còn nghiệp dư.

    3. Thông tin thêm :


    .+ Kiyoteru là giáo viên dạy học chính thức cho Kaai Yuki. Chuyên môn của anh là toán học. Vào những ngày cuối tuần, anh tham gia nhóm nhạc rock “Ice Mountain Teru”.
    .+ Kẹp cà vạt của Kiyoteru dựa vào hình dáng của cây Electric Upright Bass (2) SLB100 của hãng Yamaha và mắt kiếng là kiểu ZS92001A của hãng Zoff.
    .+ Tạo hình của Kiyoteru bị một số fan phàn nàn. Anh được dự định là hát cặp cùng Kaai Yuki nhưng fan cho rằng cặp Kiyoteru và Kaai Yuki sẽ trở thành đề tài bàn tán vì độ tuổi của hai người, dựa vào tạo hình và các bài hát. Vẻ ngoài đơn giản và quá đỗi bình thường của Kiyoteru so với tạo hình của các Vocaloid trước đây cũng nhận không ít lời than phiền.
    .+ Ngay từ đầu, các video của Kiyoteru trên Nico Nico Douga đã phải lãnh nhiều nhận xét tranh cãi về việc giọng của Kiyoteru rất giống KAITO, dù điều này chỉ xuất hiện khi Kiyoteru hát những nốt cao. Dần dần, vì nhận định trên và những nhận xét không tốt ăn theo, Kiyoteru bị xem là không hòa hợp với các Vocaloid nam khác. Cần phải chỉnh giọng Kiyoteru một cách kỹ lưỡng vì giọng anh nổi bật khi hát cùng các Vocaloid nam.


    4. Fanart



    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG][/XEM]

    Wiki - MIZKI

    [XEM]
    VY1 (có tên khác là “MIZKI” - liên quan tới từ “hanamizuki”(Hoa Thủy Mộc)) là sản phẩm đầu tiên của seri VY được phát triển bởi bplats. Được phát hành vào ngày 1 tháng 9 năm 2010, gồm bản chuẩn và bản cao cấp.
    [​IMG]




    1. Lịch sử


    .Vào ngày 6 tháng 8 năm 2010, không cần giới thiệu trước, Yamaha đã thông báo ngày bán ra của vocaloid mới tên VY1 “MIZKI” và bắt đầu nhận đơn đặt hàng trên bplats, trang cửa hàng trực tuyến của công ty từ ngày 13 tháng 8 năm 2010. Ba bài hát mẫu, “Polyrhythm” , “Stardust Utopia” and “Saihate”, đã được đăng lên Youtube. Matsuo-P đã mượn những phiên bản Vocaloid gốc từ Yamaha và tạo ra hai bài hát thử nghiệm khác, “Flower and Water” và “684のうた/Song of 684”, và tải lên trang Nicovideo. Anh cũng sử dụng Hatsune Miku (bản Append), Megpoid (Gumi) và phiên bản dùng thử của Lily để so sánh với VY1.
    1.1 VY1 trên iPad và iPhone

    .Vào tháng 12 năm 2010, bản VY1 tương thích với iPhone và iPad, một “iVocaloid”, là VY1t đã được bán ra. Tuy bản này có nhiều chức năng bị giới hạn, nhưng với cái giá là 1800 yen cho iPad và 350 yen cho iPhone đã khiến VY1t là phiên bản Vocaloid rẻ nhất trong số Vocaloid bán ra lúc bấy giờ.
    1.2 VOCALO Revolution

    .VY1 được dùng làm giọng của linh vật “CUL” của VOCALO Revolution. Voicebank được giới thiệu trong màn giới thiệu của chương trình, PV “白の季節” và phần credit vào cuối chương trình.
    2. Sử dụng trong âm nhạc


    .VY1 được dự tính là dành cho các nhạc sĩ chuyên nghiệp và theo Yamaha đó là một voicebank chất lượng cao. VY1 sẽ là một phần của một chuỗi các voicebank được thiết kế không có giới tính, khuôn mặt hay giọng và sẽ là một ca sĩ có thể hát bất kì bài hát nào. Chất giọng nữ tính và nhẹ nhàng đã khiến voicebank này khác so với các Vocaloid khác. Chất giọng này cùng với bản thu âm chất lượng cao kết hợp đã cho VY1 một chất giọng mượt mà nhưng sắc sảo. Người ta cũng thông báo rằng VY1 sử dụng phương pháp xử lí dữ liệu mới dựa trên dữ liệu Vocaloid gốc để cải thiện giọng hát trong khi chỉ sử dụng bộ máy Vocaloid 2.


    [​IMG]

    Vỏ ngoài album của VY1


    2.1 Các Album

    .Phiên bản cao cấp được bán kèm với một CD miễn phí bao gồm một số bài hát của nhiều tác giả khác nhau, cùng với cấu hình họ sử dụng cho bài hát và kinh nghiệm của bản thân họ, đồng thời cũng cung cấp những bản mẫu để cho thấy cách voicebank được sử dụng và giới thiệu những ý tưởng và gợi ý bằng những bài hát của họ. Những tác giả sử dụng phần mềm là những tác giả nổi tiếng được biết đến trên Nico Nico Douga và Youtube để giúp Yamaha tạo nên một chuẩn mực mới được hi vọng là sẽ áp dụng lên VY1.
    Các bài hát bao gồm:
    "Stardust Utopia" lyrics / music : otetsu × illustration / character sets : meola
    "Cellulloid -P∴Rhythmatiq remix-" Lyrics / Composition : kisk_baker Arrangement : Aether_Eru × illustration / character sets : homework
    "Paradichlorobenzene" Lyrics / Music: Owata-P illustration / character sets : Agata
    "Endless -1983FMGROOVE-" lyricist / composer / illustration / character sets : Kyaputenmirai
    "Drive!!" lyrics / music : BanananaMiLK × illustration / character sets : Takahashihiroyuki
    "Rollin Girl" lyrics / music / Illustration / Set : wowaka ( escapism P)
    "Original Sing" lyrics / music : http × illustration / character sets : Hari Ogawa
    "Awakening!" lyrics / music : KazuP × illustration / character sets : BUZZ
    "chromosome"Joint Lyrics / Composer: Renton P (otonaclub) × illustration / character sets : Hino wind
    "Saihate" lyrics / composition / illustration / character sets : Onyx Kobayashi


    3. Thông tin thêm


    .Không giống như các Vocaloid khác,VY1 không có bất kì hình nhân vật đại diện chính thức nào, giống như Lola và Leon. Sự khác biệt là VY1 được coi như không có bất kỳ hình thái đặc tính nào, còn Leon và Lola được ấn định giới tính và vốn chỉ như những linh hồn của ca sĩ thật. Tuy nhiên, ban đầu, khi đăng kí sản phẩm trước phát hành, trước khi Yamaha tiết lộ ý định về seri VY, VY1 được chỉ định giới tính “nữ” . Vì vậy, VY1 được hầu hết xem là một nhân vật nữ.



    4. Ảnh


    .Mặc dù VY1 không có bất kì thiết kế chính thức nào, nhưng lại có những hình minh họa khác của fan dựa trên thiết kế của hộp.

    [​IMG]
    Một mẫu của fan thiết kế dựa trên vỏ hộp
    [​IMG]
    Một mẫu thiết kế dựa trên y phục Kimono
    [​IMG]
    Linh vật "CUL" sử dụng giọng VY1​
    [/XEM]
    Một quản lý đã sửa: 24/6/12
  8. ●๋Hanabi Yuni●๋

    ●๋Hanabi Yuni●๋ Active Member CTV

    Bài viết:
    1,471
    Được Like:
    20
    Thành tích:
    38

    【Kasane Teto】Confront! You Look So Cool!【UTAU Animation-PV】
    [video=youtube;jNgCaDzrrUg]http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=jNgCaDzrrUg[/video]

    Western Show on Super Mario World (スーパーマリオでウエスタンショー) [Yuni: em cực thích bài này luôn Luigi đẹp trai thấy sợ]
    [video=youtube;tv-dEz9HW10]http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=tv-dEz9HW10[/video]

    【Cantarella 】 KAITO [Another PV - Full ver]
    [video=youtube;cwiQFatodTU]http://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=cwiQFatodTU[/video]​
  9. Sum SS

    Sum SS Thành Viên Nằm Vùng Thành viên BQT Quản Lý Forum

    Bài viết:
    693
    Được Like:
    48
    Thành tích:
    28
    Topic Này Sắp Nghẻo Rồi :hoanho:
  10. Kenny Dragon

    Kenny Dragon Lớn rồi Quản Lý Forum

    Bài viết:
    1,091
    Được Like:
    84
    Thành tích:
    48
    từ từ mềnh sẽ update thêm [​IMG] dạo này hơi bận tí